Hỏi Đáp

Nghĩa Của Từ Chân Cứng Đá Mềm Là Gì, Nghĩa Của Từ Chân Cứng Đá Mềm

Pháp sư Chân Hoa, một bậc cao Tăng của Phật giáo Đài Loan ngày nay, tên thật là Lưu Phục Vũ, sinh vào ngày kỷ niệm đức Phật Niết Bàn năm 1921. Là người con út trong một gia đình có bốn anh trai và một chị gái, một đại gia đình giàu có bậc nhất trong trấn. Nhưng khi Ngài lên bốn tuổi, cả họ tộc đã gặp phải một đại nạn thương tâm – gia đình dòng họ lâm vào cảnh phá sản, khốn cùng. Trong một năm mà có tám người lớn nhỏ lần lượt qua đời. Ngài phải mồ côi mẹ từ đó và sống nương tựa vào tình thương yêu bảo bọc, che chở của người bà để chống lại sự cay nghiệt của người cha tàn nhẫn đã ba lần muốn giết chết Ngài mà không thành.

Đang xem: Chân cứng đá mềm là gì

Bạn đang xem: Chân cứng đá mềm là gì

*

Kể từ đó, Ngài phải trải qua tuổi thơ đầy bất hạnh bên cạnh người bà già nua khắc khổ. Hai bà cháu nương tựa vào nhau sống lây lất qua ngày trong sự nghèo đói quanh năm.

Cho đến năm Ngài mười ba tuổi, người bà cũng lại qua đời bỏ lại Ngài một mình sống bơ vơ giữa cõi đời đầy tang thương. Từ đây Ngài phải trải qua các công việc làm thuê, làm mướn, sống lang bạt nơi đầu đường xó chợ để kiếm miếng ăn tạm bợ qua ngày, lúc ngủ ở đình khi thì ở miếu.

Trôi qua như vậy khoảng hai năm, nhân duyên xưa hội lại, Ngài được một bà họ Trần tốt bụng khuyên bảo, giới thiệu đến thiền viện Thái Sơn núi Bảo An để xuất gia vào ngày 01 tháng 07 năm 1935. Đây là một bước ngoặt quan trọng nhất trong cuộc đời của Ngài.

Thiền viện Thái Sơn, nơi mà Pháp sư Chân Hoa xuất gia, thật ra là một ngôi miếu đạo sĩ, nồng nặc không khí của “Tam Thanh Quán”. Trong chùa có nuôi đủ thứ: trâu, bò, heo, dê, gà… Hầu hết những người xuất gia ở các ngôi chùa nhỏ của Trung Quốc thời bấy giờ đều còn ăn thịt, uống rượu, chỉ khác người thế tục ở chỗ không có vợ con, cạo đầu, mặc casa. Điều đó đã cho thấy Phật giáo Trung Hoa trong giai đoạn này rất suy đồi chỉ còn mang hình thức thờ cúng, tổ chức các lễ hội để thâu lợi nhuận mà thôi.

Sau khi xuất gia làm tiểu hoà thượng, cuộc sống của Ngài có phần đỡ vất vả hơn về việc ăn, mặc, ở nhưng lại phải cực lực làm việc suốt ngày dưới sự sai bảo của những người xuất gia trước. Hai năm sau khi xuất gia, Ngài cũng được cho đi học, lúc này Ngài đã hơn mười lăm tuổi. Nhờ vào quyết tâm vượt khó học hỏi, Ngài cũng theo kịp các bạn đã học trước mình và cũng trang bị cho mình một vốn kiến thức căn bản về quốc văn làm hành trang cho đường du phương học đạo sau này.

Do ảnh hưởng của cuộc chiến tranh chống Nhật, đến năm hai mươi bốn tuổi Ngài mới thực hiện được ước mơ xuôi nam để tham học và lại phải trải qua rất nhiều khó khăn gian khổ do hậu quả của cuộc kháng chiến còn để lại. Dù đã gom góp, mót vét hết các khoản nhưng chi phí cũng chỉ đủ đến nửa đường. Nên trên đường đi Ngài đã nảy ra ý định “quải đơn” ở các ngôi chùa đi qua. Chuyện đời cũng khó đoán trước được, có nơi vị trụ trì vui vẻ đón tiếp giúp đỡ nhưng cũng có nơi Ngài bị cự tuyệt đuổi đi. Sau khi đã trải qua nhiều chuyện vui buồn như thế rồi Ngài cũng đến được núi Bảo Hoa để dự giới đàn truyền giới.

Núi Bảo Hoa được mệnh danh là “Luật tông đệ nhất sơn”. Đây là nơi thường tổ chức các giới đàn và nổi tiếng là trì luật đệ nhất. Giới đàn ở đây tổ chức kéo dài năm mươi ba ngày, các quy củ rất nghiêm ngặt. Quý thầy dẫn lễ, thầy giáo thọ, thầy quản giới tử rất nghiêm khắc, đôi lúc đến mức lạnh lùng, dã man. Sẵn sàng ra tay đánh phạt bất cứ lúc nào, ở đâu, khi có giới tử không thực hiện đúng nội quy dù chỉ là sai sót nhỏ.

Đời sống ở đây rất kham khổ, trong năm mươi ba ngày của kỳ giới đàn mà chỉ có bốn ngày, trong các ngày rằm và mồng một là được ăn cơm, ngoài ra chỉ ăn toàn cháo lỏng.

Xem thêm: Tây Tứ Trạch Là Gì? Đông Tứ Trạch Là Gì ? Đông Tứ Trạch Là Gì?

Song, bên cạnh đó vẫn còn một tệ nạn đáng tiếc cho “Luật tông đệ nhất sơn” là việc “nấu ăn riêng” đã tồn tại từ 300 năm nay. Đó là vào thời Hoà thượng Kiến Nguyệt (Hoà thượng Tam Muội) còn tại thế, có ba vị thái giám đồng đến quy y. Hoà thượng có việc chưa trở về núi kịp. Bấy giờ, Ngài Đạt Chiếu treo tượng để cạo tóc quy y cho họ. Đến khi Hoà thượng về núi, mỗi người đều đã ở phòng riêng. Ngày 30 tháng 09 niên hiệu Hoằng Quang thứ nhất, Lưu Đốn Tu một trong ba vị thái giám đó đã đề nghị với hai vị Hương Tuyết và Đạt Chiếu về việc đặt bếp riêng trong phòng và đã được hai vị chấp nhận. Đây là nguyên nhân phá vỡ quy củ Luật tông của núi Bảo Hoa và đã tồn tại cho tới ngày nay.

Sự việc này cũng giống như phần giải thích về nguồn gốc của “Tân Tăng” ở Nhật Bản mà Pháp sư Chân Hoa đã nói ở đoạn sau: “Chúng ta biết rằng tu sĩ Nhật Bản cưới vợ đầu tiên là Thân Loan Thượng Nhân bị em giá của Nhật Hoàng ép cưới, nếu không tuân theo thì toàn thể Phật giáo Nhật Bản sẽ gặp đại nạn, Thân Loan Thượng nhân căn nhắc nặng nhẹ cho nên chấp nhận hy sinh bản thân. Nhưng sau khi kết hôn, Ngài liền rời khỏi tự viện, thành lập Tông Nhật Liên riêng biệt dành cho Phật giáo đồ cư sĩ chuyên hoằng truyền pháp môn Tịnh Độ… Sáu bảy mươi năm trước đây, vua Minh Trị Duy Tân Nhật Bản xét thấy dân số không đủ, liền ra lệnh những Tăng sĩ trẻ đều phải cưới vợ còn những Tăng sĩ lớn tuổi thì vẫn giữ gìn tịnh giới. Nhưng về sau, các lão Tăng ngày càng già yếu, qua đời, những người còn lại đại diện cho hàng Tăng bảo đều là Hoà thượng có vợ, có con. Tình trạng này là do sức ép bức của Ác Vương mà ra nông nỗi như vậy.”

Sau khi thọ giới xong, Pháp sư Chân Hoa lại càng tha thiết mong muốn du phương tham học, đặc biệt là đến các Phật học viện. Nhưng do thời cuộc còn khó khăn nên chí nguyện của Ngài vẫn không được như ý.

Rồi Ngài lại dấn thân trên con đường du phương. Lúc thì làm Kinh sư ở chùa Đông Nhạc, khi đến học tại chùa Thiên Ninh, sau lại đến Linh Nham Tự của Tổ Ấn Quang để hạ thủ công phu giải quyết việc lớn sinh tử.

Trong thời gian này, Ngài đã kiền thành sám hối và tha thiết khuyến thỉnh người cha của mình xuất gia. Sự cố gắng của Ngài cuối cùng cũng đạt được kết quả khi cảm hoá được thân phụ hoan hỷ đồng ý xuất gia để từ đây Ngài có cơ hội gần gũi chăm lo cho cha mình đến lúc cuối đời và cũng trả được món nợ hiếu lớn nhất trên thế gian này.

Nhưng sự đời vốn dĩ vô thường biến đổi không giống như mình mong muốn. Do vì chiến tranh lại xảy ra nên Ngài phải rời khỏi Giang Nam cùng với người cha vừa mới thọ giới xong, hai người đi hành cước khắp nơi và hướng về Phổ Đà Sơn. Tại đây Ngài gặp phải đại nạn cha con phải chia lìa vì bị bắt nhập ngũ. Sau đó bị đưa đến Đài Loan để huấn luyện rồi tham gia chiến đấu.

Dù đi lính nhưng Ngài vẫn giữ lập trường xuất thế, vẫn ăn chay trường và luôn giữ chánh niệm tỉnh giác nên đã giúp bản thân nhiều phen thoát chết.

Do may mắn được xuất ngũ sớm cộng với tâm luôn luôn hướng về con đường xuất gia tu học. Ngài lại được thầy, bạn cũ tạo điều kiện giúp đỡ nên sớm trở lại tiếp tục con đường xuất thế còn dang dở.

Sau khi trở lại với hình tướng của một vị tu sĩ, Pháp sư Chân Hoa lại tiếp tục chặng đường tham học của mình ngay trên mảnh đất Đài Loan, nơi mà Ngài vừa mất ba năm để trả xong duyên nghiệp thế gian còn sót lại. Từ đây Ngài đã an tâm dốc hết toàn trí lực của mình tập trung vào con đường tu học dưới sự hướng dẫn của các bậc tôn túc tiền bối như: Pháp sư Từ Hàng, Luật sư Ấn Thuận, Bạch Thánh Hội Trưởng, Pháp sư Đạo Nguyên…

Hiện nay, Pháp sư Chân Hoa là một bậc đạo cao đức trọng, thạch trụ tòng lâm của Phật giáo Đài Loan.

Xem thêm: Cách Xác Định Hạn Mức Tín Dụng, Hạn Mức Tín Dụng Là Gì

Qua hành trạng cuộc đời của Pháp sư Chân Hoa từ lúc sinh ra cho đến khi xuất gia tu học và khoảng thời gian dài gian khổ du phương tầm đạo nhằm nhắn nhủ các thế hệ tu sĩ trẻ lớp sau phải luôn luôn kiên trì nhẫn nhịn để vượt qua mọi khó khăn thử thách của cuộc sống. Quan trọng là phải luôn giữ gìn được sự phát tâm ban đầu và chí cầu học không nhàm chán. Phải biết “tuỳ duyên” nhưng “bất biến” đối với các nghịch cảnh gặp phải nhằm giữ vững được con đường xuất gia tu học của mình. Luôn luôn cố gắng, nỗ lực vươn lên trên con đường đạo để sớm đạt được sự an vui, giải thoát.

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button