Dàn ý phân tích bài thơ Chạy giặc

Hướng dẫn thiết lập Lập dàn ý Phân tích bài thơ Xuất chiến Ngắn gọn, chi tiết, tốt nhất. Với dàn ý và các bài văn mẫu được biên soạn, biên soạn dưới đây sẽ giúp các em có thêm tài liệu hữu ích cho việc học tập môn ngữ văn. Cùng tham khảo nhé!

Lập dàn ý Phân tích bài thơ Xuất chinh – Văn mẫu số 1

Khai mạc

– Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác: Năm 1859, thực dân Pháp đánh Gia Định, Nguyễn Đình Chiểu viết bài Chạy trốn giặc.

– Giới thiệu (viết lại bài thơ).

– Chuyển ý: phân tích, đánh giá nội dung và nghệ thuật của bài thơ.

Thân hình

1. Hai câu chủ đề

– Từ ngữ gợi tả chính xác, hình ảnh chân thực, sinh động: tan chợ, trung thu, tiếng súng Tây, bàn cờ, kim phút.

– Tiếng súng của giặc Pháp bất ngờ vang lên, phá vỡ cuộc sống yên bình của nhân dân ta và đẩy đất nước ta đến chỗ hiểm nghèo, thất bại hoàn toàn.

– Cảm xúc đầu bài thơ: bàng hoàng, tuyệt vọng.

2. Hai câu thực

– Ẩn dụ, đảo ngữ, trạng ngữ gợi hình ảnh bề bộn, bề bộn của nhân dân ta: lười nhác, lếch thếch.

– Nhịp chẵn lẻ của thơ Đường luật thể hiện sự than thở:

Bị bỏ rơi / những đứa trẻ / chạy trốn,

Mất tổ / bầy chim / bay hoang.

– Nỗi thống khổ của nhân dân ta trong cảnh chạy trốn chiến tranh.

3. Hai bài luận

– Thủ pháp đảo ngữ tiếp tục được sử dụng, hình ảnh giàu sức gợi: quê hương Bến Nghé, Đồng Nai thân yêu, bị giặc tàn phá, cướp phá, đồng tiền tan tác, tranh ngói nhuốm màu mây khói.

– Lời tố cáo tội ác của giặc vừa cụ thể vừa khái quát bằng giọng thơ xót xa, căm thù.

– Tội ác man rợ của quân xâm lược.

4. Hai câu kết

– Ngôn ngữ trào phúng sắc bén (đây không phải là yên lặng, đành lòng để cho dân đen), than rằng nhà Nguyễn sợ giặc, bỏ mặc nhân dân lầm than.

– Cảm xúc trước cảnh gợi tình của nhân dân.

Sự kết luận

– Giá trị hiện thực: tái hiện cảnh nhân dân chạy trốn giặc trong những ngày thực dân Pháp nổ súng xâm lược Nam Bộ.

– Giá trị tư tưởng, tình cảm: thể hiện lòng yêu nước, thương dân tha thiết, căm thù quân xâm lược tàn bạo.

Lập dàn ý Phân tích bài thơ Xuất chinh – Văn mẫu số 2

Lập dàn ý phân tích bài thơ ngắn nhất Xuất chiến

Khai mạc

– Giới thiệu tác giả, tác phẩm.

– Nội dung

– Tổng quan

Thân hình

1. Quang cảnh đất nước và nhân dân khi gặp thực dân Pháp.

– Tiếng súng nổ

– Số phận trong thời kỳ “ngàn cân treo sợi tóc”

2. Cảnh người chạy trốn giặc

– Bọn trẻ

– Chim

– Mất tiền.

3. Thái độ của tác giả

4. Khái quát nghệ thuật

5. Liên hệ mở rộng

Chấm dứt

– Tổng quan về chủ đề

– Cảm xúc cá nhân

Phân tích bài thơ Ra trận

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn của nước ta thế kỷ 19. Tuổi trẻ bị mù hai mắt, đường đời, sự nghiệp, công danh dang dở, nhưng ông không chịu khoanh tay trước những bất hạnh cay đắng. Ông mở trường dạy học, làm thầy thuốc chữa bệnh cho dân, làm thơ văn, thành danh, trở thành ngôi sao sáng trong văn nghệ Việt Nam cuối thế kỷ 19.

Xem thêm bài viết hay:  Công thức tính thời gian

Tên tuổi Nguyễn Đình Chiểu gắn liền với những truyện thơ kinh điển như truyện “Lục Vân Tiên”, truyện “Ngự Tiều khám bệnh trả lời”… Đỉnh cao về tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Đình Chiểu là những bài thơ. văn, thơ yêu nước như “Chạy giặc”, “Xước cảnh”, “Văn tế Trương Công Định”, “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, v.v.

Đánh giá về giá trị các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trong những năm thực dân Pháp xâm lược Nam Bộ, có ý kiến ​​khẳng định: “Những sáng tác của ông đi vào cuộc sống và hướng tới chúng ta như những bài ca yêu nước…”.

Nếu như các bài thơ “Lục Vân Tiên”, “Ngự Tiêu khám bệnh trả lời”…. Sáng ngời tư tưởng nhân văn cao cả, cao đẹp, những nghĩa cử hy sinh, những bài thơ “Chạy giặc” đã “làm sống dậy và hướng về ta như những khúc ca yêu nước… Văn, thơ Nguyễn Đình Chiểu “ca ngợi” những anh hùng, cả đời trung với nước , thương tiếc những nghĩa sĩ đã trọn nghĩa với dân Ngòi bút, tức là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã miêu tả một cách sinh động, chân thực tình cảm của dân tộc đối với người lính nghĩa quân là nông dân , ngày xưa chỉ cày cuốc cuốc bẫm, bỗng thành anh hùng cứu nước.” (Phạm Văn Đồng).

Khi Tổ quốc bị xâm lược “súng đạn quân thù, đồng bào áo tơi” đứng lên đánh giặc với lòng căm thù sôi sục:

“Khi tôi nhìn thấy bong bóng phủ trắng, tôi muốn đến ăn gan,

Ngày tôi nhìn ống khói đen kịt, tôi muốn ra ngoài và cắn vào cổ mình”.

Họ đánh giặc để bảo vệ “tấc đất, tấc rau”, để giữ “bát cơm manh áo”. Vì thế, chỉ một lưỡi dao phay, một gậy vô lê cũng lao vào trận. Tư thế chiến đấu vô cùng dũng cảm:

“Hỏa mai bằng rơm, cung còn đốt nhà tôn kia,

Gươm đeo bằng lưỡi dao phay cũng chặt đầu hai quan”.

(Nhà hảo tâm Cần Giuộc)

Quê hương bị giặc Pháp giày xéo nhưng dù bị mù ông vẫn dùng ngòi bút và tấm lòng tham gia đánh giặc. Ông gọi lòng trung thành của mình là “tôn giáo” trung thành, mỉa mai, tỏa sáng:

“Đời thà giấu đi đôi mắt,

Đạo làm tròn làm gương”

Có thể nói, những câu văn, vần thơ của Nguyễn Đình Chiểu chan chứa tinh thần yêu nước đã “làm sống dậy và hướng chúng ta như những bài ca yêu nước… Vì vậy, ước mơ của Người vẫn là ước mơ của hàng triệu người dân Việt Nam trong thế kỷ qua:

“Miễn là thánh để ân sủng thấm nhập,

Một trận mưa như trút nước đã rửa sạch núi sông.”

(Cảnh xúc động)

Bài thơ “Chạy giặc” là bài ca yêu nước chống xâm lược. Năm 1859, thực dân Pháp nổ súng tấn công thành Gia Định. Nước nhà lâm họa – Nguyễn Đình Chiểu viết bài thơ “Chạy giặc” theo thể thơ bảy chữ, Đường luật, ghi lại sự kiện bi tráng này.

Xem thêm bài viết hay:  Phần trả lời câu hỏi Toán 10 Bài 2 Chương 5 Đại số – Giải Toán 10

Hai câu kết nói về thời thế và thế sự của đất nước. Giặc Pháp đánh thành Gia Định vào lúc “chợ vỡ”:

“Chợ tan nghe tiếng súng Tây,

Một bàn cờ rơi khỏi lòng bàn tay của bạn”

Cảnh họp chợ và tan chợ là nhịp sống yên bình của nhân dân ta. Tiếng súng Tây bất ngờ nổ vang trời làm nhịp sống ấy bị đảo lộn. Cảnh chiến tranh đã bắt đầu. “Một bàn cờ” là hình ảnh ẩn dụ về thời cuộc, về sự cam go, ác liệt của chiến tranh. Ba “phút tay” trong câu thơ “Một bàn cờ mất tay” cho thấy sự thất thủ của quân triều đình ở thành Gia Định diễn ra quá nhanh. Hai câu thơ đầu như một lời thông báo về một sự kiện lịch sử bi tráng diễn ra vào năm 1859. Đằng sau câu thơ là nỗi lo lắng, kinh hoàng của nhà thơ trước thảm họa quê hương thân yêu bị giặc Pháp đô hộ. khép kín và chà đạp.

Hai câu ở phần thực đối lập, phép đảo ngữ được sử dụng nhuần nhuyễn: Vị ngữ “bỏ nhà ra đi” và “mất tổ” được đặt ở đầu câu thơ nhằm nhấn mạnh nỗi đau thương, tang tóc của nhân dân ta khi giặc Pháp tràn đến. . :

“Ra khỏi nhà, lũ trẻ bỏ chạy,

Mất tổ, đàn chim chích bay bay”

Nếu viết “Trẻ bỏ nhà chạy đi” và “Đàn chim mất tổ bay đi” thì mất hết ý nghĩa và giá trị biểu cảm của câu thơ! Những từ cẩu thả “lười biếng” và “nhút nhát” gợi lên sự hoang mang và kinh hãi tột độ. Cảnh con lạc bầy và cảnh chim phá tổ là hai bài thơ chọn lọc, tiêu biểu trong văn học dân gian miêu tả cảnh chạy giặc vô cùng bi thảm.

Hai bài luận, ý thơ được phát triển và mở rộng. Tác giả lên án tội ác giặc Pháp càn quét, đốt nhà, giết người, cướp quê hương. Phép đối và phép nghịch được sử dụng một cách sáng tạo. Nhà thơ không viết: “Bến Nghé trước cửa tan nước chảy” và “Đồng Nai tranh ngói nhuốm mây” mà viết:

“Bến Nghé đồng tiền tan hoang,

Tranh ngói Đồng Nai nhuốm mây”

Câu thơ vẽ nên một vùng địa lý bao la trù phú (Bến Nghé, Đồng Nai) phút chốc hóa thành tro bụi. Bến Nghé, Đồng Nai vào thế kỷ 19 vốn là vựa lúa và nơi buôn bán sầm uất trên bến dưới thuyền, nhưng đã bị giặc Pháp tàn phá. Tiền của, tài sản của nhân dân ta bị giặc cướp, “tan bọt nước”. Những ngôi nhà nơi làng quê thi sĩ bị đốt phá, khói lửa “nhuốm mây trời”. Hai hình ảnh so sánh “Bọt nước mắt” và “mây nhuốm màu” là những câu nói dân gian cụ thể diễn tả sự tàn phá do giặc Pháp gây ra.

Xem thêm bài viết hay:  Bài 28 trang 115 sgk Đại Số và Giải Tích 11 nâng caoBài 3: Cấp số cộng Bài 28 (trang 115 sgk Đại Số và Giải Tích 11 nâng cao):  Số đo ba góc của một …

Có thể nói, hai cặp câu ở phần thực và phần luận là tiếng nói căm thù lên án tội ác của giặc Pháp của nhà thơ. Người đọc cảm nhận sâu sắc bài thơ Chạy giặc đã “sống lại và hướng về ta như những bài ca yêu nước”. Các nhà thơ Việt Nam sau này đã học tập và kế thừa Nguyễn Đình Chiểu để viết những bài thơ căm giận quân xâm lược:

“Bỗng cuối mùa chiêm giặc đến

Ngõ chùa đỏ rực giàn cau”

(Núi Đôi – Vũ Cao)

“Quân về thù chuốc lấy máu đau,

Lòng sông đau, cây đau”

(Quê hương – Tố Hữu)

Hơn một thế kỷ qua, biết bao máu xương của nhân dân đã đổ xuống vì quân xâm lược. Vì vậy, căm thù giặc là cảm xúc chủ đạo của các bài thơ yêu nước.

Trở lại hai câu cuối của bài Chạy giặc, chúng ta xúc động trước câu hỏi của nhà thơ:

“Xin trang dẹp loạn,

Hãy để người da đen phải chịu đựng điều này?”

Trang dẹp loạn” cũng là trang anh hùng. và mong đợi người anh hùng tài giỏi đánh giặc cứu nước cứu dân thoát cảnh lầm than.Tình yêu của Nguyễn Đình Chiểu đối với những người dân bị kẹt trong bom đạn quân thù!“Chạy giặc” là bài ca yêu nước mở đầu cho nền thơ ca yêu nước của dân tộc ta từ cuối thế kỷ 19.

Bài thơ “Chạy giặc” được viết bằng ngôn ngữ bình dị, dân dã, đậm đà màu sắc Nam Bộ (con lười, li bì, mụ mị, tan tác, nhuốm mây, người mây, người đen). . Phép đối, phép đảo ngữ, so sánh ẩn dụ là những biện pháp nghệ thuật được tác giả vận dụng sáng tạo để viết nên bài thơ cô đọng, giàu sức biểu cảm.

“Chạy giặc” là một bài thơ có giá trị lịch sử to lớn. Nó ghi lại những sự kiện đau thương của đất nước ta vào cuối thế kỷ 19. Đó là bài ca yêu nước căm thù giặc “hồi sinh hướng về khát vọng độc lập, tự do của ta”.

Vì thế, THCS Ngô Thì Nhậm cung cấp một số dàn bài cơ bản cũng như một số bài văn mẫu hay Lập dàn ý phân tích bài thơ “Chạy chinh chiến” để các em tham khảo và có thể viết thành một bài văn mẫu hoàn chỉnh. Chúc may mắn với việc học ngôn ngữ của bạn!

Đăng bởi: THCS Ngô Thì Nhậm

Chuyên mục: Văn lớp 11 , Ngữ Văn 11

Bạn thấy bài viết Dàn ý phân tích bài thơ Chạy giặc
có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Dàn ý phân tích bài thơ Chạy giặc
bên dưới để duhoc-o-canada.com có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: duhoc-o-canada.com của duhoc-o-canada.com

Chuyên mục: Giáo dục

Nhớ để nguồn bài viết này: Dàn ý phân tích bài thơ Chạy giặc
của website duhoc-o-canada.com

Viết một bình luận