Lý luận văn học về Chiếc thuyền ngoài xa

Đề bài : Trong “Nét độc đáo của phong cách Nguyễn Minh Châu”, Ngọc Huy viết: “Viết về những người phụ nữ, những người đàn bà lam lũ khổ cực cả đời, Nguyễn Minh Châu không chỉ kiếm tìm, tôn vinh vẻ đẹp, phẩm chất người phụ nữ mà nhà văn còn lí giải cội nguồn vẻ đẹp ấy chính là lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết bám sâu trong tâm hồn, tâm linh con người”.

Bằng việc phân tích nhân vật người đàn bà trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” anh (chị) hãy chứng minh nhận định trên.

Bài làm

     Bước qua khói lửa, bom đạn của chiến tranh, những tưởng con người sẽ có một cuộc sống bình yên, hạnh phúc. Thế nhưng, trong cuộc sống thời hậu chiến, những con người bé nhỏ, đáng thương vẫn đang phải “vật lộn” với những lo toan, mưu sinh. Dường như Nguyễn Minh Châu sinh ra, ở đây để trở thành “kẻ nâng giấc cho những người bé nhỏ ấy. Những con người cùng đường, tuyệt độ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi đẩy con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác bị hắt hủi và đày đọa đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào con người và cuộc đời để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực”. Điều đó càng rõ hơn khi Nguyễn Minh Châu viết về người phụ nữ. Trong “Nét độc đáo của phong cách Nguyễn Minh Châu”, Ngọc Huy từng nhận xét: “Viết về những người phụ nữ, những người đàn bà lam lũ khổ cực cả đời, Nguyễn Minh Châu không chỉ kiếm tìm, tôn vinh vẻ đẹp, phẩm chất người phụ nữ mà nhà văn còn lí giải cội nguồn vẻ đẹp ấy chính là lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết bám sâu trong tâm hồn, tâm linh con người”. Người đàn bà hàng chài trong “Chiếc thuyền ngoài xa” thật đúng với nhận xét ấy!

      “Chiếc thuyền ngoài xa” được Nguyễn Minh Châu sáng tác trong giai đoạn hai vào năm 1983, khi cảm hứng sáng tác của nhà văn dần dần chuyển sang tính chất triết luận về những giá trị nhân bản đời thường, khám phá ý nghĩa bản chất con người trong cuộc mưu sinh, trong hành trình nhọc nhằn kiếm tìm hạnh phúc và hoàn thiện nhân cách. “Chiếc thuyền ngoài xa” được in lần đầu trong tập “Bến quê”, sau được tác giả lấy làm tên chung cho cả tập truyện ngắn từ truyện “Bức tranh” trở đi, in năm 1987. Người đàn bà hàng chài là một minh chứng cho cảm hứng sáng tác đó, bởi Nguyễn Minh Châu không chỉ tìm kiếm, tôn vinh vẻ đẹp, phẩm chất ẩn chứa trong người đàn bà ấy mà còn đi lí giải cội nguồn của vẻ đẹp ấy.

     Từ nhận định của Ngọc Huy chúng ta thấy ông muốn nhấn mạnh những áng văn của của Nguyễn Minh Châu khi viết về người phụ nữ góc nhìn của tác giả luôn chú ý tới những người phụ nữ vất vả, lam lũ cả cuộc đời. Những người phụ nữ bé nhỏ tội nghiệp ấy tưởng như sẽ bị lãng quên, vùi lấp dưới đáy của xã hội. Nhưng Nguyễn Minh Châu đã tìm kiếm để rồi phát hiện những vẻ đẹp ẩn giấu trong tâm hồn họ, ngời sáng như những viên ngọc trai đang chìm sâu dưới đáy biển. Nếu chỉ dừng lại ở bấy nhiên thì chắc chắn chưa thỏa với ngòi bút triết luận, luôn muốn đi sâu, lí giải một cách cặn kẽ những vấn đề nhân sinh nhức nhối. Chính vì lẽ đó Ngọc Huy mới dám khẳng định rằng: “Nguyễn Minh Châu không chỉ kiếm tìm, tôn vinh vẻ đẹp, phẩm chất người phụ nữ mà nhà văn còn lí giải cội nguồn vẻ đẹp ấy chính là lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết bám sâu trong tâm hồn, tâm linh con người”.

     Người đàn bà hàng chài – một người phụ nữ lam lũ, khổ cực cả đời. Nếu như thị của Kim Lân khổ sở vì miếng ăn, tưởng như đã đánh mất cả lòng tự trọng và tôn nghiêm của người phụ nữ khi theo không một người đàn ông lạ mặt về để làm vợ. Tưởng chừng cuộc đời ấy sẽ khổ sở, cùng cực nhưng không Kim Lân vẫn để thị vẫn có một gia đình hạnh phúc, có ước mơ đang được nhen nhóm từ ngôi nhà bé nhỏ ấy. Còn người đàn bà hàng chài của Nguyễn Minh Châu thì sao? Cuối cùng người đàn bà ấy có hạnh phúc không? Không ai biết, nhưng chính chị đã lựa chọn số phận cam chịu một cuộc sống khổ sở, khổ sở cùng cực đến hết một đời.

      Xuyên suốt toàn bộ câu chuyện, hầu như người đọc không hề được biết đến tên gọi của chị, khi thì gọi là “người đàn bà hàng chài”, lúc lại gọi là “mụ”, rồi đến “chị ta”. Người đàn bà vô danh ấy trạc tuổi bốn mươi, một thân hình quen thuộc của người đàn bà vùng biển, cao lớn với những đường nét thô kệch. Khuôn mặt khó coi bởi những vết sẹo rỗ do bệnh đậu mùa từ ngày bé để lại không những thế trên khuôn mặt ấy còn lộ rõ sự mệt mỏi sau một đêm thức trắng kéo lưới, tái ngắt và dường như đang buồn ngủ. Ở chị còn phơi lộ sự nghèo đói, nhếch nhác khi thấy tấm lưng áo bạc phếch, rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng. Có lẽ đây chính là chân dung con người có một cuộc đời nhọc nhằn, lam lũ, sinh ra để gánh vác công việc, để chèo chống với phong ba! Chỉ vì xấu xí nên cơ hội hạnh phúc của chị cũng ít hơn những người khác, mặc dù gia đình khá giả, có nhà ở trên phố nhưng vì ngoại hình xấu xí nên không nên duyên với ai. Người đàn bà này lại có mang với một anh con trai nhà hàng chài hay đến nhà mua đồ về đan lưới nên họ đã trở thành vợ chồng. Trước đây chồng chị từng là một anh con trai “hiền lành nhưng cục tính” nhưng do gia hoàn cảnh gia đình nghèo khổ và thiếu thốn, nhà đông con lại sống trên một chiếc thuyền, miếng ăn phụ thuộc vào những ngày trời yên biển lặng có thể ra khơi đánh bắt, còn những ngày phong ba thì … cả nhà phải ăn xương rồng luộc chấm muối. Đã khiến anh trở thành một kẻ vũ phu. Chỉ còn biết đánh đập vợ để giải tỏa những bế tắc của cuộc sống, ba ngày hắn đánh chị một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng, cứ khi nào lão thấy khổ quá lại lôi vợ ra đánh, trút giận với những lời lẽ cay độc. Người đàn bà chỉ nhẫn nhịn chịu đựng “không hề kêu một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn”. Đúng, người đàn bà ấy tự lựa cho mình một số phận lam lũ, cùng cực. Những gì chị đang phải trải qua là những áp lực về cuộc sống vật chất cũng như áp lực về tinh thần sau những trận đòn roi. Hình ảnh người phụ nữ lam lũ, có cuộc đời cực nhọc bước ra từ trang sách Nguyễn Minh Châu, để lại trong lòng bạn đọc nhiều ám ảnh.

      Vậy điều gì đã khiến người phụ nữ ấy làm như vậy? Nhà văn Nguyễn Minh Châu đã đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho chúng ta khi để người đàn bà ấy kể lại câu chuyện cuộc đời của mình nơi tòa án huyện. Người đọc không thể nào quên những hình ảnh một người phụ nữ miền biển mang trong mình nỗi đau khổ, sự nhẫn nhục của một cuộc đời lam lũ, vất vả đến cùng cực mà nhưng lại toát lên vẻ đẹp tiềm ẩn của con người dù sống trong tăm tối khó khăn. Đó là vẻ đẹp của tâm hồn, phẩm chất của người đàn bà hàng chài. Ẩn sau một số phận nghiệt ngã, những biểu hiện có phần nhu nhược, yếu đuối lại là một tấm lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết bám sâu trong tâm hồn, tâm linh con người chị.

      Đằng sau vẻ ngoại hình xấu xí, thô kệch lại là tấm lòng vị tha, độ lượng. Chị hiểu rõ vì mưu sinh, vất vả, cuộc sống ngày một khó khăn, nên đã khiến một anh chàng từ hiền lành, chẳng khi nào động chân động tay với vợ, nay thành kẻ vũ phu bạo hành. Chị hiểu và thông cảm cho nỗi khổ u uất trong lòng chồng và chị sẵn sàng chia sẻ nỗi khổ ấy bằng sự chịu đựng những trận đòn roi kì lạ “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” cứ liên tiếp ngày qua ngày. Ấy vậy mà người đàn bà ấy, không một lời kêu than trách oán cũng chẳng chạy trốn, bỏ đi mỗi khi chồng bạo hành. Trái lại, chị còn tự nguyện lên bờ cho chồng đánh và chịu đựng những trận đòn như lửa cháy. Không chỉ thấu hiểu, thương xót cho nỗi khổ của chồng, chị luôn luôn tự cảm thấy mình có lỗi và có suy nghĩ mặc cảm: “giá tôi đẻ ít đi và tôi sắm được cái thuyền rộng hơn”. Vì cuộc sống của những đứa con, chị thà bị đánh chứ không chịu bỏ chồng. Chị đã từ chối lời đề nghị giải thoát khỏi lão chồng vũ phu với lí lẽ: “Đàn bà trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không phải sống cho mình như trên đất được”. Nếu nghệ sĩ Phùng nhìn người đàn ông dưới góc độ lí lịch, thành phần, chánh án Đẩu nhìn người đàn ông dưới góc độ pháp luật, thằng Phác nhìn người đàn ông dưới con mắt trẻ thơ thì chỉ duy nhất người phụ nữ – nạn nhân của bạo hành gia đình lại nhìn anh ta dưới con mắt thương cảm bởi chị hiểu lí do vì sao người chồng lại trở nên độc ác như vậy. Đó là vì cái đói cái nghèo, vì gánh nặng mưu sinh đã ghì con người ta xuống sát đất, biến đổi cả tâm tính con người. Trong khi mọi người nhìn người đàn ông như một ác nhân thì người phụ nữ nhìn anh ta như một nạn nhân.

      Chị tuy thất học nhưng có cái nhìn sắc sảo, thấu hiểu lẽ đời, thấu tình đạt lí. Chị xuất hiện ở tòa án huyện trong tâm thế bị động, không tự nguyện và cũng không muốn viết đơn bỏ chồng. Khi mới bước chân đến tòa án, chị tỏ ra rất lúng túng và sợ sệt, xưng hô lễ phép “con” – “quý tòa” và nhìn xung quanh với ánh mắt lo sợ. Nhưng khi nghe lời khuyên và hiểu thiện chí của Đẩu, của Phùng, chị thay đổi thái độ: từ chối lời đề nghị giúp đỡ, đau đớn đánh đổi mọi giá để không phải bỏ chồng, đưa ra những lí do bằng việc kể lại câu chuyện về cuộc đời mình. Chị giúp Đẩu và Phùng nhận ra sự thiếu thực tế của họ: “Lòng các chú tốt, nhưng các chú đâu có phải là người làm ăn…cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của người làm ăn lam lũ, khó nhọc… Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông”. Hiểu được rằng Phùng và Đẩu muốn mình không còn phải chịu những trận đòn roi nữa, nhưng sự sâu sắc và thấu hiểu lẽ đời của chị đã lí giải cho họ: “Đàn bà hàng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Vậy nên nếu bỏ chồng, chị và các con không những mất đi chỗ dựa mà trong bão to, sóng dữ, thử hỏi nếu không có người đàn ông thì số phận chiếc thuyền ấy sẽ ra sao? Cuộc sống của người đàn bà hàng chài và những đứa con của chị sẽ ra làm sao? Tất cả những điều đó cho ta thấy ở người đàn bà hàng chài có sự sắc sảo, hiểu biết, thấu hiểu lẽ đời nhưng không bộc lộ, hiển hiện ở bên ngoài mà được cất giữ, giấu kín ở bên trong. Đây là người phụ nữ khiêm nhường, dù biết tất cả nhưng không chọn cách sống cho riêng mình.

      Vượt lên trên sự cay đắng và cơ cực ấy, tình mẫu tử của chị tỏa sáng, đó chính là đức hi sinh cao thượng của thiên chức người mẹ. “Ông trời sinh ra người đàn bà là để đẻ con, rồi nuôi con cho đến khi khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ”. Với chị, “gánh lấy cái khổ vì con” là lẽ đương nhiên. Chị vất vả ngày đêm kéo lưới trên mặt biển đầy sóng gió hay chịu đựng trận đòn như cơm bữa của chồng là vì con, chị gồng mình để gánh chịu những đòn roi của chồng cũng bởi những đứa con. Chị hiểu hơn ai hết, một cuộc hôn nhân tan vỡ thì những đứa con luôn là người gánh chịu nỗi đau nhiều nhất, một gia đình hạnh phúc là gia đình còn có đầy đủ các thành viên dù đâu đó trong gia đình ấy vẫn còn nhiều khiếm khuyết. Vì thương con và để tránh sự tổn thương cho con nên người đàn bà xin với chồng “đưa lên bờ mà đánh”. Rồi cũng lo trước sự phản ứng dữ dội của thằng Phác khi chứng kiến cảnh “bạo lực” đó, sợ nó làm điều gì dại dột đối với bố nó mà chị đành ngậm ngùi gửi đứa con yêu thương của mình lên rừng ở với ông ngoại. Hơn nữa người đàn bà còn muốn bảo vệ tâm hồn non trẻ của đứa con trước những tác động không tốt từ hoàn cảnh. Tình mẫu tử thiêng liêng, cao thượng ấy đã chắp cánh cho chị đưa đàn con bay vút lên trên sự cơ cực, đói kém, nhọc nhằn, lam lũ. Chị chắt chiu dành dụm những niềm vui nhỏ nhất: vui nhất là khi nhìn đàn con được ăn no, khi vợ chồng, con cái sống vui vẻ, hòa thuận. Tấm lòng của người mẹ ấy thật đáng trân trọng biết bao.

Xem thêm bài viết hay:  Bài 2 trang 21 SGK Vật Lý 12

      Tất cả những vẻ đẹp, những phẩm chất tốt đẹp của người đàn bà ấy từ đâu mà có. Có phải do Phùng và Đẩu mang đến chăng? Không! Cội nguồn và vẻ đẹp ấy chính là tấm lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết đã bám rễ trong chính tâm hồn, tâm linh chị, một người mẹ hết mực yêu thương con, một người vợ thấu hiểu chồng, một người phụ nữ đời thường nhưng không tầm thường.

      Qua nhân vật người đàn bà hàng chài ta càng thấy nhận xét của Ngọc Huy thật đúng. Ở những trang thấm đượm tình người ấy, Nguyễn Minh Châu không đơn thuần phát hiện và tôn vinh vẻ đẹp, phẩm chất của người phụ nữ mà còn tìm cho ra cội nguồn của nó. Cội nguồn của những vẻ đẹp khuất lấp ấy chính là tấm lòng nhân hậu, đức hạnh, phẩm tiết đã bám sâu trong tâm hồn, tâm linh con người. Nguyễn Minh Châu quan niệm “Văn học và đời sống là những vòng tròn đồng tâm mà tâm điểm là con người”. Và trong con người ấy, Nguyễn Minh Châu lại tìm ra những vẻ đẹp khuất lấp, những hạt ngọc ẩn giấu trong tâm hồn con người. Và người đàn bà hàng chài là một minh chứng cho quan niệm ấy. Bởi ngay từ đầu chính Phùng và Đẩu chỉ thấy ở người đàn bà này những xấu xí, thô kệch thậm chí là ngớ ngẩn. Nhưng khi nghe người đàn bà ấy kể về cuộc đời mình thì chính Phùng và Đẩu, hai người tự cho mình là có học, có cái nhìn sâu sắc về cuộc đời tự thấy bản thân còn nhiều điều thiếu sót. Từ giây phút ấy trong mắt Phùng và Đẩu mới thấy người đàn bà ấy đẹp biết bao. Vẫn là giọng văn đậm tính triết luận, mỗi câu chuyện của Nguyễn Minh Châu đều tự nhiên như thế, để lại trong lòng mỗi bạn đọc biết bao câu hỏi và cũng tự tìm được cho mình câu trả lời cho những câu hỏi ấy.

      Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu là một trong những tác phẩm xuất sắc phản ánh rất rõ bức tranh xã hội Việt Nam sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, tuy chiến tranh đã đi qua thế nhưng hậu quả nó để lại cho con người, cho mảnh đất quê hương thì còn mãi dai dẳng, chính cái đói, cái nghèo kiệt quệ đã khiến con người ta khốn khổ, tha hóa. Tuy nhiên không nhằm mục đích nhấn mạnh vào vấn đề này, mà chủ yếu Nguyễn Minh Châu muốn khai thác vẻ đẹp tâm hồn của những con người nhỏ bé, những khía cạnh đạo đức, từ đó dẫn ra những quan điểm mới về cách nhìn nhận cuộc đời, cách cảm nhận những vẻ đẹp chân chính mà ở đây là hình ảnh người đàn bà hàng chài với vẻ đẹp của tình mẹ, sự bao dung và thấu hiểu lý lẽ ở đời. Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong cuộc hành trình khám phá những ẩn khuất trong cuộc đời phức tạp đó chính là “đưa bạn đọc đến với xứ sở của cái đẹp” – cái đẹp được tìm thấy trong chính những con người lao động nhỏ bé, bình dị thế! Điều đó thật đáng trân trọng biết bao!

Nhận thức về chân lí của nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu trong “Chiếc thuyền ngoài xa”

     Ngay từ nhan đề của tác phẩm đã ẩn chứa một thông điệp nghệ thuật sâu sắc. “Chiếc thuyền ngoài xa” là hình ảnh vừa có ý nghĩa thực, cụ thể vừa có ý nghĩa biểu tượng. Chiếc thuyền là phương tiện làm ăn sinh sống của người dân hàng chài. Nó cũng là biểu tượng cho số phận, cuộc đời lênh đênh, trôi nổi của họ. Và rộng hơn, chiếc thuyền ấy chính là biểu tượng cho hiện thực cuộc sống rộng lớn. “Ngoài xa” gợi một không gian xa xăm mịt mùng, là khoảng cách đứng ngắm của người nghệ sĩ để quan sát hiện thực cuộc sống.

     Như vậy, hình ảnh “chiếc thuyền ngoài xa” là biểu tượng cho mối quan hệ giữa hiện thực cuộc sống và nghệ thuật. Nếu ngắm chiếc thuyền ở ngoài xa ta thấy nó rất đẹp và thơ mộng. Nhưng khi đến gần, ta mới thấy hết nghịch lí, đau khổ. Như vậy, để nắm bắt đúng bản chất của cuộc sống và khám phá được chiều sâu hiện thực của nó, người nghệ sĩ cần đứng quan sát ở vị trí gần để tiếp cận, quan sát và tìm hiểu. Thông điệp nghệ thuật ấy được nhà văn gửi gắm qua việc xây dựng tình huống nhận thức của nhân vật Phùng.

     Phùng vốn là một phóng viên, được trưởng phòng giao nhiệm vụ đi chụp để bổ sung vào bộ ảnh lịch một cảnh biển buổi sáng có sương. Anh đến một vùng biển miền Trung, nơi có phong cảnh “thật là thơ mộng”, còn sương mù vào giữa tháng bảy. Anh đã chụp được một cảnh đắt trời cho giống như “một bức tranh mực tàu của một danh họa thời cổ. Mũi thuyền in một nét mơ hồ lòe nhòe vào bầu sương mù trắng như sữa có pha đôi chút màu hồng hồng do ánh mặt trời chiếu vào. Vài bóng người lớn lẫn trẻ con đang ngồi im phăng phắc như tượng trên chiếc mui khum khum, đang hướng mặt vào bờ.

     Tất cả khung cảnh ấy nhìn qua những cái mắt lưới và tấm lưới nằm giữa hai chiếc gọng vó hiện ra dưới một hình thù y hệt cánh một con dơi, toàn bộ khung cảnh từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích khiến đứng trước nó tôi trở nên bối rối, trong trái tim như có cái gì bóp thắt vào”. Trong lúc ấy, Phùng tưởng chính mình vừa khám phá thấy cái chân lí của sự toàn thiện, khám phá thấy cái khoảnh khắc trong ngần của tâm hồn. Anh đã không phải suy nghĩ gì khi bấm “liên thanh” một hồi hết mọt phần tư cuốn phim, thu vào chiếc máy ảnh cái khoảnh khắc tràn ngập tâm hồn mình, do cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh vừa mang lại.

     Nhưng cũng chính ngay lúc ấy, Phùng chứng kiến một hiện thực cuộc sống trần trụi, phũ phàng. Một chiếc thuyền lao tới trước mặt, trên thuyền có một người đàn ông và một người đàn bà. Lập tức, anh được chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ, “lão trút cơn giận như lửa cháy bằng cách dùng chiếc thắt lưng quật tới tấp vào lưng người đàn bà, lão vừa đánh vừa thở hồng hộc, hai hàm răng nghiến ken két, cứ mỗi nhát quất xuống lão lại nguyền rủa bằng cái giọng rên rỉ đau đớn: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ”.

     Người đàn bà hàng chài bị đòn thường xuyên, ba ngày một trận nhẹ còn năm ngày một trận nặng nhưng mụ vẫn cam chịu, nhẫn nhục, không hề chống trả. Thằng Phác, đứa con trai của người đàn bà hàng chài lao tới cứu mẹ, nó đã giằng được chiếc thắt lưng để đánh cha nhưng đã bị lão đàn ông cho hai cái tát. Người đàn bà cảm thấy vừa xấu hổ vừa vô cùng nhục nhã. Chị đã được Đẩu mời đến tòa án huyện để khuyên giải. Nhưng chị lại cầu xin Đẩu đừng bắt chị phải bỏ chồng vì trên thuyền luôn cần có một người đàn ông. Mụ cho rằng Phùng và Đẩu rất tốt nhưng các anh đâu có phải là những người làm ăn khó nhọc nên đâu hiểu được nỗi vất vả của những người dân miền biển.

     Nghe chị tâm sự, Phùng và Đẩu thực sự đã vỡ lẽ ra được nhiều điều. Và đối với Phùng, anh mang về rất nhiều tấm ảnh và đã có một tấm ảnh được lựa chọn, “tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra từ tấm ảnh…Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông…”.

     Như vậy, tình huống truyện đã làm nổi bật sự giác ngộ trong nhận thức về cuộc sống của phóng viên Phùng. Anh không ngờ đằng sau cái đẹp của cảnh biển thơ mộng, toàn bích lại chứa đựng biết bao nghịch lí của đời thường. Đó cũng chính là thông điệp về quan niệm nghệ thuật của tác giả muốn gửi gắm. Phát hiện thứ nhất của Phùng là một cảnh biển thơ mộng, một vẻ đẹp toàn bích, lãng mạn, trong trẻo đã từng khiến trái tim anh rung động đắm say. Trong đầu anh đã từng băn khoăn nghĩ về cái đẹp, bản thân cái đẹp chính là đạo đức. Cái đẹp ấy do ngoại cảnh mang lại, cái đẹp của sự toàn thiện.

     Quan niệm nghệ thuật ấy có phần đúng đắn song theo xu hướng lãng mạn, thi vị hóa cuộc sống. Nó có phần đúng bởi nghệ thuật cũng cần được thăng hoa từ sự rung động của tâm hồn và hướng con người tới vẻ đẹp chân, thiện, mĩ. Tuy nhiên, nếu không được trực tiếp nhìn thấy cảnh người đàn ông đánh vợ thì Phùng mới chỉ nhận thức được cái bề ngoài của cuộc sống, chưa thể hiểu thấu bản chất của con người và cuộc sống.

     Dường như nhà văn Nam Cao và Nguyễn Minh Châu đều có sự trùng hợp về quan niệm nghệ thuật: người nghệ sĩ không nên thi vị hóa cuộc sống, không nên tô hồng hiện thực dù cho hiện thực ấy trần trụi, khô khan, khắc nghiệt. Đã có lúc nhân vật Điền trong truyện ngắn “Trăng sáng” khao khát sáng tạo những áng văn chương lãng mạn chỉ dành cho những người đẹp chỉ biết nhàn nhã ngồi thưởng thức văn của Điền: “Nghệ thuật chính là cái ánh trăng xanh huyền ảo, nó làm đẹp đến cả những cảnh thật ra chỉ tầm thường, xấu xa”. Nhưng rồi trước cuộc sống của vợ con khổ sở vì đói khát, ốm đau, anh không đành lòng quay lưng ra đi tìm cảm hứng cho riêng mình. Anh như bừng ngộ khi nhận ra “Điền không thể sung sướng khi con Điền còn khổ. Chao ôi ! Trăng đẹp lắm ! Trăng dịu dàng trong trẻo và bình tĩnh. Nhưng trong những căn lều nát mà trăng làm cho cái bề ngoài trông cũng đẹp, biết bao người quằn quại, nức nở, nhăn nhó với những đau thương của kiếp mình ! Biết bao tiếng nghiến răng và chửi rủa ! Biết bao cực khổ và lầm than ?..”

     Qua tác phẩm “Trăng sáng”, Nam Cao viết khẳng định nghệ thuật phải được bắt rễ từ hiện thực đời sống, phản ánh chân thực, khách quan đời sống. Vị trí của nhà văn là phải đứng trong lao khổ để đón nhận mọi vang động của cuộc đời “Chao ôi ! Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than vang dội lên mạnh mẽ trong lòng Điền. Điền chẳng cần đi đâu cả, Điền chẳng cần trốn tránh, Điền cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời…”

     Trở lại với tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”, ta càng thấu hiểu hơn chân lí nghệ thuật của các nhà văn Nam Cao và Nguyễn Minh Châu gửi gắm. Phát hiện thứ hai của Phùng chính là một sự vỡ lẽ trong nhận thức về cuộc sống. Anh đã nhận ra được cuộc sống không hề đơn giản một chiều và cũng không hoàn toàn là vẻ đẹp thơ mộng, toàn bích, toàn thiện. Mà đó là một hiện thực thô ráp, trần trụi, đầy nghịch lí, đau khổ mà con người quanh ta đang phải chịu đựng. Anh hoàn toàn ngạc nhiên trước sự cam chịu của người đàn bà hàng chài khi mụ bị chồng đánh mà không trốn chạy hay tìm cách chống trả. Nhưng khi lắng nghe tâm sự từ người phụ nữ ấy, anh đã thấu hiểu phần nào về nỗi khổ của người dân hàng chài, đặc biệt là người phụ nữ. Để rồi, cuối cùng bức ảnh về chiếc thuyền ngoài xa thơ mộng, huyền ảo trong màn sương hồng biến mất, thay vào đó là bức ảnh đen trắng về cuộc sống nhọc nhằn của người dân hàng chài.

     Bức ảnh ấy anh mang về đã được treo ở nhiều nơi, nhất là trong các gia đình sành nghệ thuật. Bức ảnh ấy nếu ngắm kĩ vẫn thấy ánh hồng hồng của sương mai và nếu nhìn lâu hơn nữa thì thấy hiện lên hình ảnh người đàn bà đang bước ra khỏi tấm ảnh. Tại sao vậy ? Phải chăng cái màu hồng hồng của ánh sương mai chính là vẻ đẹp của ngoại cảnh thơ mộng và lãng mạn, nó là bề ngoài che phủ, ẩn chứa trong đó hiện thực về cuộc sống nhọc nhằn, vất vả của con người. Bản chất, sự thực đời sống con người luôn chìm lấp đằng sau những bức tranh đời sống tưởng như rất đẹp và toàn thiện.

     Để nắm bắt được bản chất của đời sống đâu dễ dàng vì nó luôn chìm dưới tầng đáy sâu của cuộc sống. Như chính Nguyễn Minh Châu đã từng quan niệm: “Nhà văn không có quyền nhìn sự vật một cách đơn giản và nhà văn cần phấn đấu để đào xới bản chất con người vào các tầng sâu lịch sử”. Quả thật, ông đã khiến người đọc nhận ra những mảnh đời thường gặp trong các truyện ngắn của ông “cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường và cái gì bình thường hiện ra như một cái không bình thường” (Pauxtốpxki).

Xem thêm bài viết hay:  Những trích dẫn hay nên đưa vào văn học

     Phải chăng hình ảnh người đàn bà bước ra từ tấm ảnh thô kệch với tấm lưng áo bạc phếch phía sau của cảnh đẹp thơ mộng kia chính là một ngụ ý về nghệ thuật của tác giả. Đó là mối quan hệ hai chiều giữa nghệ thuật và hiện thực cuộc sống được khái quát rất sâu sắc. Nghệ thuật được thăng hoa và sáng tạo từ chính hiện thực cuộc sống lầm than, cơ cực, nghiệt ngã và ngược lại, con người, hiện thực đời sống được phản ánh vào nghệ thuật một cách chân thực, khách quan, nguyên vẹn hơi thở tự nhiên của nó.  Dù đó là hiện thực phũ phàng, cơ cực, đắng cay đến đâu thì nghệ thuật cũng phải phản ánh đúng bản chất của nó. Người nghệ sĩ không có quyền tô hồng, thi vị hóa hay bôi đen hiện thực ấy. Mặt khác, đối tượng đáng được quan tâm, phản ánh của nghệ thuật chính là cuộc sống của con người, của quần chúng nhân dân lầm than.

     Hình ảnh người đàn bà hàng chài không có tên cụ thể và lại hòa lẫn vào đám đông chính là một điển hình nghệ thuật. Đó là hình tượng vừa có nét riêng, cá biệt nhưng vừa tiêu biểu cho đa số quần chúng lao khổ. Tác giả chỉ nói đến một cuộc đời nhưng đã làm sống dậy biết bao cuộc đời của người dân miền biển khác nhau.

     Như vậy, qua sự đối lập giữa cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh với hiện thực cuộc sống đắng cay nhọc nhằn của những người dân hàng chài, qua sự thay đổi trong nhận thức của nhân vật Phùng, tác giả đã gửi đến cho chúng ta một thông điệp nghệ thuật. Nghệ thuật có thể nhìn cuộc đời tươi sáng, lãng mạn nhưng trước hết phải ưu tiên cho con người, phải góp phần giải phóng con người thoát khỏi sự cầm tù của đói nghèo, tăm tối và bạo lực. Muốn vậy, vị trí quan sát và tiếp cận của người nghệ sĩ không thể đứng từ xa để rồi chỉ thấy vẻ bề ngoài mà không thấy bản chất, không thể đứng ngoài cuộc sống của nhân dân lao khổ mà phải ở trong cảnh ngộ của họ.

     Người nghệ sĩ rất cần một mối quan hệ mật thiết với quần chúng cơ cực, phải đứng trong lao khổ, gần gũi để cảm thông, chia sẻ chứ không phải đứng ngoài hay đứng trên để phán xét, nhìn nhận, phản ánh. Để có những tác phẩm nghệ thuật chân chính và có giá trị bền lâu, người nghệ sĩ không thể nhìn đời một cách phiến diện, lệch lạc, đơn giản, dễ dãi mà rất cần một tấm lòng chân thành, biết cảm thông và lắng nghe, yêu thương và thấu hiểu, có đủ bản lĩnh, dũng khí khi cầm bút để phản ánh sự thật đời sống, luôn trăn trở suy tư về những bộn bề lo âu trong cuộc sống của con người. Họ phải thực sự đi sâu tìm hiểu, nhận thức để khám phá, phản ánh bản chất của con người, của sự thật đời sống luôn khuất lấp ẩn giấu ở bề sâu.

     Cái đẹp chân chính của nghệ thuật luôn bắt đầu và hướng tới cuộc sống chân chính của con người. “Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra”, An-dec-xen đã từng nói vậy. Còn Secnưsepxki thì cho rằng “cái đẹp là sự sống”. Vậy thì có lẽ gì nghệ thuật lại không nảy nở từ chính cuộc sống này với mối chân cảm của người nghệ sĩ trước mỗi số phận, cảnh đời thực tế. Cái đẹp là bản thân cuốc sống với đầy đủ gam màu tối sáng, những quy luật tất yếu lẫn ngẫu nhiên, may rủi khó lường hết. Cái hồn của nghệ thuật chính là vẻ đẹp rất đỗi đời thường, giản dị, chân thật. Nó được chưng cất, được chắt lọc từ cuộc sống thường nhật của biết bao người dân lao động nghèo khổ.

     Để phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn của đời sống, người nghệ sĩ cần có vốn sống thực tế, có sự am hiểu sâu sắc về đời sống, có cái nhìn đa chiều để phát hiện ra bản chất của nó bị chìm lấp đằng sau cái vẻ bề ngoài đẹp đẽ. Đó đâu chỉ là bài học dành cho những người nghệ sĩ mà còn là bài học sâu sắc cho mỗi chúng ta trong cách nhìn nhận về cuộc sống và con người. Cuộc sống vốn vậy, vẫn đẹp tươi, vẫn êm ả, lãng mạn, toàn bích nhưng nếu không có tấm lòng để nhận ra những uẩn khúc số phận thì những vẻ đẹp như màu hồng hồng của ánh sương mai kia cũng trở nên vô nghĩa, người nghệ sĩ phải nhận ra sự thật khuất sau màn sương huyền ảo kia, phải tiếp cận sự thật để nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống và con người. Đối với những con người sống quanh ta, nếu như ta có một cái nhìn nhân bản, ta sẽ phát hiện ra vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn họ. Bởi con người là một thực thể phức tạp, đa chiều.

     Tình huống truyện đã gửi gắm một quan niệm nghệ thuật sâu xa của tác giả. Không hề đao to búa lớn, không cần những triết lí cao siêu, cầu kì, những triết lí về mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống, về cái nhìn của người nghệ sĩ trước cuộc sống và con người đã được chuyển tải qua tình huống nhận thức của nhân vật Phùng. Khai thác vào giá trị nhân bản, hướng đến những vấn đề mang tầm nhân loại kết hợp với lí giải chiều sâu tâm hồn dân tộc, thân phận cá nhân, Nguyễn Minh Châu xứng đáng được coi là nhà văn tiên phong trong hành trình đổi mới văn học những năm đầu của thập kỉ 80.

     Với cái nhìn chan chứa yêu thương, luôn cảm thông và hiểu biết sâu sắc về con người, ông đã để lại cho đời những tác phẩm văn học chân chính, đó là thứ văn học luôn hướng về con người và dành cho con người. Đồng thời mỗi chúng ta đều nhận thức được bài học về cách nhìn toàn diện về cái đẹp của cuộc sống cả bề mặt lẫn bề sâu. Những giá trị tinh thần mà văn chương Nguyễn Minh Châu mang lại đều xuất phát từ quan niệm nghệ thuật cao quý về sứ mệnh của nhà văn: “Nhà văn tồn tại ở trên đời có lẽ trước hết là vì thế: để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn con người ta đến chân tường, những con người cả tâm hồn và thể xác, bị hắt hủi và đọa đày đến ê chề, hoàn toàn mất hết lòng tin vào cuộc đời và con người, để bênh vực cho những con người không có ai để bênh vực” (Ngồi buồn viết mà chơi ).

     Tóm lại, tình huống tự nhận thức trong truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” là một sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Minh Châu. Truyện ngắn này không những đánh dấu sự chuyển biến trong bước ngoặt sáng tác của ông đầu những năm 80 mà còn minh chứng cho sự ổn định của phong cách nghệ thuật luôn thống nhất ở cái nhìn cuộc sống bằng con mắt của nhà tư duy triết học. Ông đã đem lại những đổi mới nhất định trong quan niệm nghệ thuật của văn học Việt Nam sau 1975, làm nên những diện mạo mới cho một giai đoạn văn học được tự do ngôn luận.

     Mặt khác, tình huống truyện không chỉ giúp chúng ta nhận thức được những quy luật nhân sinh mang tầm vóc nhân loại mà còn để lại bài học đắt giá về sáng tạo nghệ thuật cho các nhà văn mọi thời đại. Quá trình đi tìm vẻ đẹp của cuộc sống còn phong kín vẫn luôn là hành trình tự nhận thức để vươn tới khát vọng nhân văn trong mỗi con người. Đối với nhà văn, đâu chỉ cần có có con mắt tinh tế để phát hiện ra cái đẹp mà rất cần dự báo quy luật tồn tại, vận động và phát triển của nó. Nhà văn cần phải gieo vào lòng người niềm tin về những giá trị chân thật vĩnh cửu vẫn ẩn náu ở bề sâu hiện thực và trong tâm hồn con người.

     Đôi khi, sự thành công của nghệ thuật cũng nhờ vào yếu tố ngẫu nhiên, cái tình cờ bắt gặp trong cuộc sống mà không nhất thiết phải thu vào khuôn mẫu nhất định. Để có được những tác phẩm văn học chân chính, nhà văn cần có một cái nhìn toàn diện và trung thực về đời sống, về bản chất con người. Đó là quá trình săn tìm cái đẹp, khai thác chất thơ trong hiện thực đời sống thô ráp thường ngày, một cái nhìn luôn “phát giác sự vật ở bề sâu, bề xa chưa từng thấy”. Điều quan trọng là mỗi nhà văn phải có một bản lĩnh, một lập trường vững vàng trước những sự kiện bất thường của cuộc sống để phát hiện và bảo vệ những giá trị tốt đẹp, dự báo sự phát triển của nó trong tương lai.

     Tình huống truyện có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc bộc lộ tư tưởng chủ đề của tác phẩm. Thiết nghĩ, tình huống truyện trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” không chỉ đem lại sức hấp dẫn độc đáo cho tác phẩm mà còn khơi gợi trong lòng người đọc nhiều tầng nghĩa khác nhau để tiếp tục tìm hiểu và khám phá. Tình huống ấy đã làm thay đổi nhận thức về cuộc sống, con người của biết bao ngòi bút văn chương và đã đánh thức trong ta nhiều suy nghĩ.

     Tình huống truyện đã giúp ta nhận thức được cái nhìn về bản chất con người và cuộc sống không hề đơn giản, xuôi chiều, như có ý kiến đã từng cho rằng “sự thật nghiệt ngã được mô tả trong truyện “Chiếc thuyền ngoài xa” đã xua tan làn khói lãng mạn phủ lên hình ảnh từ lâu đã trở nên quen thuộc về một ngư phủ dưới cánh buồm ban mai lên trên không gian rộng của biển cả. Cùng với “Chiếc thuyền ngoài xa”, Nguyễn Minh Châu còn hàng loạt tác phẩm chứa đựng cái ý nghĩa rộng lớn, sâu xa, nó khiến ta phải giật mình nếu quen nghĩ rằng cuộc đời đã hết đáng thương, nó khơi gợi người cầm bút nên nhìn kĩ vào những gì sau vẻ đẹp điền viên bề ngoài để nhớ tới trách nhiệm của người nghệ sĩ trước cuộc sống, trước con người”.

     Có lẽ, tình huống truyện trong tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” vẫn còn là một thế giới cổ tích bí ẩn, huyền diệu đầy sức hấp dẫn để cho chúng ta tìm hiểu và khám phá. Vì vậy, mỗi chúng ta hãy biết đào sâu khai thác nó để phát hiện ra nhiều điều thú vị, nhiều ý nghĩa sâu xa tiềm ẩn trong đó

Phân tích tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa” của Nguyễn Minh Châu

Nguyễn Minh Châu là người suốt đời đi tìm cái đẹp và cái thật, thao thiết kiếm tìm “hạt ngọc ẩn giấu trong bề sâu tâm hồn con người.” Trước 1975, Nguyễn Minh Châu được biết đến với những tác phẩm đậm chất sử thi như: Cửa sông, Miền cháy, Dấu chân người lính. Thế nhưng, sau 1975, chính Nguyễn Minh Châu lại là người đi tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Chiếc thuyền ngoài xa được in năm 1983 là một bước tiến dài rất đáng trân trọng trong hành trình khám phá vào tầng chìm, vào chiều sâu của cuộc sống và con người của văn xuôi Nguyễn Minh Châu.

Tình huống thắt nút của tác phẩm

     Tác phẩm đã chọn được một tình huống hết sức đắt giá và có ý nghĩa. Tình huống ấy chứa đựng nhiều mâu thuẫn, nhiều nghịch lí của cuộc sống. Phóng viên Phùng được giao nhiệm vụ đi chụp thêm cảnh một buổi bình minh đầy sương để bổ sung cho hoàn hảo vào bộ sưu tập chuyên đề thuỳen và biển: “ 12 tháng là 12 bức ảnh nghệ thuật về thuyền và biển.” Lặn lội hơn 600 cây số,anh đến một vùng đầm phá miền Trung xa xôi mà anh cho là rất thi mộng để săn lấy một bức ảnh hợp với ý đồ nghệ thuật của vị trưởng phòng. Bao nhiêu ngày nằm phục kích, cuối cùng anh cũng bắt gặp được một cảnh mà anh rất mãn nguyện: “có lẽ suốt một đời cầm máy ảnh chưa bao giờ tôi được thấy một cảnh “đắt” trời cho như vậy. Trước mắt tôi là một bức tranh mực tàu của một danh hoạ thời cổ”. Đó là cảnh chiếc thuyền vó  của gia đình một ngư dân đang tiến vào bờ. Người nghệ sĩ nhiếp ảnh tràn ngập hạnh phúc sau khi bấm “ liên thanh” một hồi hết một phần tư cuốn phim ghi lại bức ảnh mà anh cho là “cái đẹp tuyệt đỉnh của ngoại cảnh.” Thế nhưng, chính lúc đang thăng hoa trong tột đỉnh khoái cảm nghệ thuật, người nghệ sĩ nhiếp ảnh và cả người đọc lại phải ngạc nhiên đến sững sờ trước một cảnh tượng nghịch lí đang diễn ra trước mắt. Nguyễn Minh Châu đã đưa đến cho ta một tình huống đầy bất ngờ: có ai ngờ trong cái khung cảnh mà người nghệ sĩ nhiếp ảnh nhìn thấy một sự hài hòa đến toàn bích kia, trong cái cảnh mờ sương đầy thơ mộng kia lại dần dần hiện lên một sự thực trần trụi đầy trớ trêu. Một trong những con đường để đi đến ý nghĩa của tác phẩm là phải phát hiện ra những mâu thuẫn nghệ thuật của tác phẩm. Nguyễn Minh Châu đã thực sự đặt người đọc trước một tình huống đầy vấn đề: một người đàn ông vũ phu, tàn nhẫn đến mức như không còn nhân tính; một người đàn bà cam chịu đến mức như mù quáng, vô cảm và một đứa bé với sức phản kháng dữ dội đến mức như những hành động bản năng. Rõ ràng, tình huống ấy có sức khơi gợi rất mạnh tư duy và cảm xúc của người đọc. Tình huống diễn ra bất ngờ và kì lạ đến mức trong mấy phút đầu người nghệ sĩ nhiếp ảnh chỉ biết “há mồm ra mà nhìn”. Từ tình huống ấy, ngòi bút “thâm trầm, buồn lắng, yêu thương nhưng dữ dội ” của Nguyễn Minh Châu  đã tài tình hé mở cho ta đi vào cuộc sống đời thường với bao đa sự, đa đoan của nó. Nhiều người cho rằng loại tình huống mà Nguyễn Minh Châu đặt ra trong tác phẩm là tình huống nhận thức. Điều đó cũng hợp lí vì càng đi sâu vào tình huống càng cho ta ngộ ra, bừng tỉnh ra nhiều điều, những điều không tuyệt bích như một bức tranh sơn mài mù sương mà ngược lại; đầy chất muối, đầy sự mặn chát của cõi bụi trần. Từ tình huống ấy ta nhận ra bao tâm trạng, bao con người, bao vấn đề của cuộc sống.

Xem thêm bài viết hay:  TPHCM: Sở GD&ĐT mở cổng tư vấn trực tuyến về kỳ thi THPT quốc gia 2017

Hình tượng người đàn ông đánh vợ tàn nhẫn

     Nếu nhìn từ xa và quan sát bên ngoài thì hình ảnh người đàn ông đánh vợ hiện lên đầy hùng hổ, táo tợn và tàn nhẫn. Thế nhưng, theo dõi tâm lí, hành động của con người này mới vỡ lẽ rằng, thì ra con người thô lỗ, lạnh lùng như gỗ đá ấy cũng biểu hiện những tâm trạng, cảm xúc khiến người đọc phải suy ngẫm.Quan sát kĩ chúng ta nhận thấy vấn đề: khi cùng lội vào bờ, đôi mắt người đàn ông “lúc nào cũng dán vào tấm lưng áo bạc phếch và rách rưới, nửa thân dưới ướt sũng của người đàn bà” thế nhưng khi đã đi khuất vào sau những chiếc xe tăng hỏng thì người đàn ông mới lập tức trở nên hùng hổ, dữ tợn đến không ngờ. Trong cái thân hình hộ pháp đậm chất biển khơi kia như đang dồn nén bao gánh nặng bắt buộc phải được trút xuống, bắt buộc phải được thoát ra. Trong từng cơn giận lão trút xuống lưng người đàn bà ta nhận ra cái “giọng rên rỉ đau đớn” và câu nói đi kèm: “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ”. Câu nói cửa miệng “Mày chết đi cho ông nhờ. Chúng mày chết đi cho ông nhờ” giúp ta định hướng rằng, hành động vũ phu man rợ của người đàn ông không phải xuất phát từ nguyên nhân là một tội lỗi nào đó của người đàn bà mà nguyên nhân là gánh nặng cuộc sống, gánh nặng gia đình với một đàn con nheo nhóc đang đè lên vai người đàn ôn trụ cột này. Đàn con thì càng ngày càng đông đúc, nên những trận đòn ngày càng dài hơn, cay cực hơn. Người đàn ông trút bao căm hờn của tình cảnh gia đình lên đầu vợ bằng bạo lực, bằng thói vũ phu đến man rợ là điều đáng giận, đáng phê phán. Thế nhưng, qua tình huống truyện, qua cái “giọng rên rỉ đau đớn” ta nhận ra cái tình cảnh khốn cùng đến bế tắc đè nặng lên bờ vai, khối thịt vốn đã không thể đen hơn, rám nắng hơn trong sự vật lộn với biển khơi của người đàn ông vùng biển.

Hình ảnh người đàn bà câm lặng, nhẫn nhục chịu đựng đòn roi

     Hình ảnh người đàn ông đánh vợ đã kì lạ nhưng hình ảnh người đàn bà câm lặng, nhẫn nhục chịu đựng đòn roi lại càng kì lạ hơn. “Ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng” nhưng người đàn bà ấy đã “không hề kêu lên một tiếng, không chống trả, không tìm cách chạy trốn”. Người đàn bà trót gây nên tội lỗi gì để rồi cam tâm nhận lấy sự tả giá hay chi ta tăm tối, mù quáng đến mức không còn cút ý thức? Những giả thiết ấy đều bị đánh đổ bằng những điều mà người đàn bà trình bày trước vị chánh án của vùng biển. Qua những cảnh có tính chất “mở nút” của tình huống, ta nhận chân giá trị của hình tượng, đó là những vẻ đẹp tuyệt vời nơi người phụ nữ khốn khổ ấy. Người mẹ ấy luôn cam tâm nhận lấy nỗi đau thể xác nhưng chị còn phải khốn khổ hơn với nỗi đau tinh thần. Ở trên chiếc thuyền chật chội, túng thiếu và nheo nhóc những con với cái kia; tiếng cười niềm vui hạnh phúc trở nên thật hiếm hoi. Những khi trời không yên, biển không lặng, cuộc sống trên những con thuyền ấy càng trở nên gieo neo. Thế là, bao nhiêu cay cú, uất ức, người chồng vũ phu lại trút lên đầu người đàn bà, làm như người đàn bà ấy là nguyên nhân trực tiếp gây nên sự bế tắc kia. Dù oan trái nhưng chị tự nguyện chấp nhận với một lời khẩn cầu cho con: khi con cái lớn lên hãy “đưa tôi lên bờ mà đánh.” Bà cam tâm nhẫn nhục chịu đựng chỉ mong sao đừng gây nên sự tổn thương cho những tâm hồn trẻ thơ. Trong hoàn cảnh đói khổ, quẫn bách của cuộc sống thuyền chài, suy nghĩ về sự hành xử như vậy, giàu tình thương và đức hi sinh biết bao. Có hiểu được điều đó ta mới đồng cảm với tâm trạng của người mẹ ấy khi vô tình để con trai chứng kiến cảnh bà bị người chồng đánh đập dã man sau những chiếc xe tăng cũ nát kia. Người mẹ cảm thấy: “Vừa đau đớn vừa vô cùng xấu hổ, nhục nhã ”, đau khổ vì lo lắng cho con trước rồi mới đến xấu hổ, nhục nhã cho mình. Chứng  kiến những trạng thái tình cảm này không ai không cảm thấy xúc động: “miệng mếu máo gọi, người đàn bà ngồi xệp xuống trước mặt thằng bé, ôm chầm lấy nó rồi lại buông ra, chắp tay vái lấy vái để, rồi lại ôm chầm lấy”.

     Bên cạnh tình thương và sự hi sinh, chị còn là người biết sống và biết thấu hiểu mọi lẽ đời. Có điều, nhân hậu và vị tha biết bao nhiêu khi chị không nghĩ đến mình, chỉ thấu hiểu cho chồng và cho tương lai của đàn con đông đúc kia. Một người chồng đầy quái gỡ, nói như vị chánh án: “ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng. Cả nước không có một người chồng như hắn”. Thế nhưng, khi được vị thẩm phán gợi ý cho con đường giải thoát thì chị lại khẩn thiết cầu xin: “Quý toà bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó”. Cách hành xử của chị khiến Đẩu, vị bao công của cái phố huyện vùng biển, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Chính người đàn bà có vẻ ngoài xấu xí và trái tim nặng trĩu khổ đau đã giúp anh ngộ ra bao điều. Chị nhìn suốt cả đời mình để đưa ra một chân lí, giản dị, mộc mạc nhưng thấm bao vị mặn chát của đời thường: “Đám đàn bà làng chài ở thuyền chúng tôi cần có người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng đặng một sắp con mà nhà nào cũng trên dưới chục đứa”. Nhưng cái chân lí đích thực và đẹp đẽ hơn là: “Đàn bà ở trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được”. Có lẽ chính thiên tính nữ ở người đàn bà đã giúp Đẩu, vị chánh án rành rỏi bao qui định của luật pháp “vỡ ra” bao điều cay đắng của luật đời. Bên cạnh Đẩu, người đàn bà còn để lại bao dư vị đắng cay cho người nghệ sĩ nhiếp ảnh. Tình huống khép lại nhưng bao nhận thức cuộc sống lại được mở ra. Đó là ý đồ nghệ thuật đầy tài ba của tác giả thiên truyện.

Những hình ảnh biểu trưng và sự thức nhận đau đớn về bao giá trị sống

     Cùng với việc xây dựng tình huống là những hình ảnh biểu trưng có sức gợi , sức kết lắng ý nghĩa tư tưởng lớn. Trong Chiếc thuyền ngoài xa, những hình ảnh biểu tượng ẩn chứa bao ý nghĩa sâu xa và chính những hình ảnh này kết lắng và chứa đựng chủ đề tư tưởng tác phẩm.

     Trước hết là cảnh tượng người đàn ông đánh vợ một cách thô bạo và man rợ đằng sau những chiếc xe tăng hỏng. Trên mảnh đất đầm phá đầy tinh thần cách mạng ấy, chiến tranh đã đi qua từ lâu. Những chiếc xe tăng, chứng tích của một thời bom đạn ác liệt giờ trở thành phế tích đang dần mục sét qua năm tháng và chất muối mặn của vùng biển. Những chiếc xe rà phá bom mìn đang cố gắng thu dọn những gì còn sót lại của chiến tranh có thể vô tình gây nên nỗi đau. Thế nhưng, bên cạnh cuộc chiến đấu ấy, bên cạnh nỗi đau ấy là một cuộc chiến đấu mới, là một nỗi đau mới. Cuộc chiến đấu mới ấy còn cam go hơn, nỗi đau mới ấy mới e chừng còn dai dẳng hơn. Đó là cuộc chiến đấu với đói nghèo, với tăm tối. Trên thuyền phải có một người đàn ông dù người đàn ông đó có man rợ và tàn bạo đến đâu đi nữa. Sự khẳng định hùng hồn như chân lí của người đàn bà làm vị chánh án chỉ biết “trút một tiếng thở dài đầy chua chát”.

     Bên cạnh hình ảnh người đàn ông đánh vợ bên bãi xe tăng hỏng là hình ảnh người nghệ sĩ nhiếp ảnh và bức ảnh nghệ thuật về chiếc thuyền ngoài xa. Nếu cảnh người đàn ông đánh vợ đầy nghịch lí thì hình ảnh người nghệ sĩ và bức ảnh nghệ thuật lại đầy mâu thuẫn. Thực hiện ý đồ nghệ thuật của vị trưởng phòng về bộ sưu tập về thuyền và biển, người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Cuộc sống con người trải qua mười hai tháng trong một năm thì bộ sưu tập có mười hai bức tranh. Bức tranh thứ mười hai qua ống kính của người nghệ sĩ ấy là một cảnh toàn bích từ đường nét, ánh sáng đến bố cục. Vậy mà, cuối cùng anh đã chứng kiến những gì? Trớ trêu, trần trụi và nghịch lí đến kì cùng. Thế nhưng nó lại có đường nét, ánh sáng và lôgic, bố cục của cuộc sống hiện thực. Cùng với vị chánh án, người nghệ sĩ  nhiếp ảnh cũng “vỡ ra” về “độ chênh” giữa cái đẹp của nghệ thuật được thu vào ống kính ống kính trong trí tưởng tượng bay bổng của người nghệ sĩ và dư vị đắng cay đến xót xa trong cái đa đoan của cõi đời. Mười hai bức tranh nghệ thuật về một vùng đầm phá thơ mộng, mờ sương hay mười hai tháng với bao cơn bão tố và những trận đòn tói tấp của gia đình người đàn bà khốn khổ kia. Với hình ảnh biểu tượng này, một lần nữa, Nguyễn Minh Châu thủ thỉ với người đọc rằng: cũng như vị chánh án, người nghệ sĩ cần có cái nhìn cận nhân tâm hơn. Những bức ảnh nghệ thuật và nhan đề “chiếc thuyền ngoài xa” gợi bao thức nhận đau đớn: ở đó, không phải là những giọt sương mai thơ mộng như trong tranh thuỷ mặc của một vùng quê yên bình mà là những giọt muối mặn đầy xót xa của cuộc sống trần trụi đời thường. Nghệ thuật chính là cuộc sống, người nghệ sĩ phải có góc nhìn và cự li khám phá cuộc sống gần gũi hơn, có như vậy anh mới phản ánh đúng, mới thấu hiểu được muôn sự đa đoan của cõi đời, khốn khổ đấy, đau đớn đấy nhưng đẹp đẽ vô cùng.

     Truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa đã thể hiện những đổi mới thành công của Nguyễn Minh Châu. Bằng việc xây dựng tình huống thắt nút và việc sử dụng những hình ảnh có sức biểu trưng lớn, tác phẩm đã đi sâu khám phá cuộc sống đời thường với bao đa sự, đa đoan thời hậu chiến. Phải có cái nhìn tinh tế, sâu sắc, Nguyễn Minh Châu mới thấu hiểu và phát hiện được những vẻ đẹp thầm lặng ẩn giấu trong tâm hồn người phụ nữ khốn khổ ấy. Tác phẩm do vậy còn cho thấy tài năng và tấm lòng người cầm bút của Nguyễn Minh Châu. 

Đăng bởi: THCS Ngô Thì Nhậm

Chuyên mục: Lớp 12, Ngữ Văn 12

Bạn thấy bài viết Lý luận văn học về Chiếc thuyền ngoài xa
có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Lý luận văn học về Chiếc thuyền ngoài xa
bên dưới để duhoc-o-canada.com có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: duhoc-o-canada.com của duhoc-o-canada.com

Chuyên mục: Giáo dục

Nhớ để nguồn bài viết này: Lý luận văn học về Chiếc thuyền ngoài xa
của website duhoc-o-canada.com

Viết một bình luận