So sánh Lưu biệt khi xuất dương và Hầu trời? | Ngữ Văn 11

Câu trả lời đúng và câu trả lời cho câu hỏi “So sánh Chia tay khi rời khỏi Yang và Hầu trời?Cùng với kiến ​​thức Ngữ văn lớp 11 sâu rộng, là tài liệu học tập vô cùng hữu ích dành cho quý thầy cô và các em học sinh.

Trả lời câu hỏi: So sánh cuộc chia tay khi đi biển và Hầu trời?

– Vĩnh biệt khi giã từ trùng dương: Về nội dung, bài thơ khắc họa vẻ đẹp lãng mạn hào hùng, nhiệt huyết sôi sục và khát vọng cháy bỏng của người chiến sĩ cách mạng Phan Bội Châu trong buổi ra đi tìm đường cứu nước. Về nghệ thuật, bài thơ nổi bật ở giọng điệu thơ vừa dồn dập, vừa quyết liệt, sục sôi từ đó có sức truyền cảm, lôi cuốn người đọc.

– Hầu trời: Bài thơ này ra đời vào đầu những năm 20 của thế kỷ XX. Vào thời điểm đó, sự lãng mạn là tâm trạng thống trị của thời đại. Xã hội thực dân phong kiến ​​tù đày, u uất, đầy cảnh ngang trái, đau thương. Trí thức có lương tâm không thể từ chối tham gia, nhưng chống lại thì không phải ai cũng có can đảm làm. Bất bình nhưng bất lực, chỉ còn biết mong thoát ly, làm thơ cho vơi nỗi sầu. Thơ Tản Đà giai đoạn này “nói đúng nỗi buồn đất nước, tiềm ẩn trong lòng người” (Xuân Diệu). Nhưng Tản Đà khác người ở chỗ, ngay từ những năm đầu của tuổi 20, ông đã dám mạnh dạn bộc lộ cái tôi “xấu” của mình với “nỗi buồn lơ mơ, thiếu cảm xúc” (Xuân Diệu), với mong muốn tạo nên Tha đi. tìm về cõi tâm linh để có thể khẳng định tài năng và nhân phẩm thực sự của mình, bởi anh không thể ngờ ở “trần gian nhơ nhớp” này lại có quá nhiều thứ như vậy. Cái ngu của Tản Đà cũng ở đó.

– Bài thơ Hầu trời đã thể hiện nổi bật hồn thơ cũng như nhân cách của Tản Đà – một nhà thơ phóng khoáng, thích tự do, luôn thích tự do, vụng dại; một con người ý thức được tài năng, giá trị đích thực của mình và luôn khao khát được khẳng định, được cống hiến, làm đẹp cho đời.

Bình luận:

Tuy cả hai bài thơ đều có những nét mới, nhất là về nội dung tình cảm, thể thơ và thi pháp, nhưng về cơ bản chúng vẫn thuộc phạm trù văn học trung đại. Bài ca tiễn biệt Phan Bội Châu thể hiện “ chí làm trai” theo một tư tưởng mới khác với “ chí làm trai” thời Trung đại, nhưng bài thơ vẫn là một bài thơ khá đối và phú. . hình ảnh ước lệ, không khác gì một bài thơ cổ. Trong khi đó, Hầu trời có cách tân hơn (hình thức thơ bảy chữ khá tự do) nhưng thực chất vẫn là một thể thơ cổ, cách diễn đạt, dùng từ, xây dựng hình tượng vẫn vậy. đặc điểm. Dấu ấn văn học trung đại. Trong đó có sự chuyển tiếp nghệ thuật của các tác phẩm nói trên.

Xem thêm bài viết hay:  6 Sống phải biết trân trọng từng phút giây

Tiếp theo, hãy cùng trường THCS Ngô Thì Nhậm tìm hiểu và khám phá thêm những kiến ​​thức thú vị về câu hỏi trên nhé!

Kiến thức tham khảo về tác phẩm Chia Tay Khi Đi Ra Ngoài Trời và Hầu Trời

1. Đọc hiểu tác phẩm Chia tay khi ra nước ngoài

* Hai câu kết: Quan niệm mới về chí khí và tư thế, tầm vóc của con người trong vũ trụ

Nam sinh yếu ớt,

Vũ trụ hứa hẹn sẽ tự di chuyển.

– Lạ: phải lạ → Sống phi thường, vẻ vang.

⇒ Khẳng định lí lẽ sống cao đẹp: kiếp làm trai.

– Vũ trụ: trời đất + câu hỏi tu từ → Tư thế, tầm vóc vĩ đại có thể xoay chuyển cả vũ trụ. ⇒ Dữ dội, phi thường.

→ Quan niệm kế thừa truyền thống, mới mẻ và táo bạo.

⇒ Lý tưởng vì nước vì dân.

* Hai câu thực: Ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời đại.

Người tu hành trung niên đã sa ngã,

Bắt đầu tải cánh sau không thùy.

– Lời khẳng định dứt khoát tu thân (cần tôi): Vai trò của bản ngã trong việc cống hiến cho đời, lưu danh thiên cổ (trăm năm, mãi mãi).

– Khởi đầu hậu không tải thùy: Khuyến khích, tạo động lực cho thế hệ trẻ hướng tới tương lai.

⇒ Khẳng định ý thức trách nhiệm công dân chính đáng và cao cả, xuất phát từ lòng yêu nước sôi sục, tha thiết.

* Hai bài luận: Thái độ quyết liệt trước tình cảnh đất nước và niềm tin cũ.

Giang sơn tử khí hy sinh,

Xem thêm bài viết hay:  Lý thuyết Địa lí 10 Bài 17. Thổ nhưỡng quyển. Các nhân tố hình thành thổ nhưỡng

Hiền nhân đương nhiên diệc ngôn!

– Mối quan hệ giữa cá nhân và đất nước (nhục – chết).

– Nhận thấy sách thánh hiền không còn ích lợi gì trong thời đại mới của đất nước (nước mất nhà tan).

→ Tư duy mới mẻ, táo bạo, cầu tiến, tiên phong. → Thái độ từ chối quyết liệt.

⇒ Là lời thú nhận về nỗi đau, sự xót xa, tủi hổ vì mất nước nhưng lại mở ra con đường cách mạng làm ô nhục đất nước.

* Hai câu kết: Tư thế và khát vọng ngày ra đi.

Có thể trục dài gió đông và biển qua,

Những chú giun trắng lãng mạn nhất thế giới.

– Hình tượng to lớn, kỳ vĩ: Vượt biển Đông, cánh gió, muôn vàn sóng bạc.

– Con người “bay bổng” tràn đầy cảm hứng lãng mạn, hào hùng.

⇒ Tư thế hăng hái, tin tưởng, quyết tâm, tràn đầy lạc quan vào tương lai tươi sáng và nhiệt huyết thăng hoa của nhà thơ, nhà cách mạng.

2. Đọc hiểu bài Hầu trời

một. Nhà thơ kể chuyện ông lên trời đọc thơ cho trời và tiên nữ nghe

– Đã canh ba mà nhà thơ không ngủ được bèn dậy đun trà uống rồi ngâm thơ làm thơ.

– Nhưng bỗng có hai nàng tiên xuống hỏi sao không ngủ được và đề nghị đọc thơ cho trời

– Tản Đà tỏ ra không sợ hãi đồng ý theo hai tiên nữ về trời đọc văn

=> Cách nói quá cùng với những chi tiết huyền thoại làm cho giọng văn thêm hóm hỉnh và có phần hư cấu. Điều đó làm cho cách mở truyện của nhà thơ thêm hấp dẫn, độc đáo.

b. Tản Đà đọc thơ đối thoại với trời:

– Khi mới lên:

+ Nhà thơ theo chân hai nàng tiên lên trời, thưởng ngoạn cảnh mây và ngạc nhiên không biết có cánh mà mình vẫn có thể bay được. Sau đó là đắm chìm trong khung cảnh tuyệt đẹp của cổng trời

+ Sau khi lạy trời, hai nàng tiên đem ghế cho chàng ngồi và được trời coi như khách quý, không phải kẻ có tội. Còn nữa, Chúa sai người mời trà đọc sách. Có một cuộc tụ tập của nhiều người, nhà thơ say mê đọc mọi thứ từ thơ đến thơ, văn xuôi đến tiểu thuyết.

=> Điều này cho thấy cái tôi hết sức khờ khạo của một Tản Đà tài giỏi, xông xáo trên mọi lĩnh vực.

Xem thêm bài viết hay:  Bài 15 trang 80 SGK Đại Số 10 nâng cao – Giải Toán 10

– Thái độ của trời và tiên khi nghe Tản Đà đọc thơ: ai nấy đều ngạc nhiên và say sưa nghe nhà thơ đọc “trời sẽ ngợi ca”. Nhà thơ đề cập đến các tạp chí thơ của mình và muốn bán chúng trên trái đất. Và trời khuyên đem ra chợ trời bán. Sau khi nghe những vần thơ cảm động, Trời đã dành cho Tản Đà những lời phê bình có cánh “sắc bén như sao băng”, “mạnh mẽ như mây bay”.

– Có thể nói đoạn hay nhất là đoạn đối thoại giữa trời và nhà thơ:

+ Sau màn đọc thơ, trời khen và hỏi tên, rồi nhà thơ tự giới thiệu.

+ Lên trời tra sổ mới biết, người này vì dại dột mà bị lưu đày. Nhưng thực ra trời sai xuống trần gian để làm việc thiện. Nhà thơ đề cập đến những khó khăn của mình. Và được trời khuyên trở lại trần gian rồi mọi chuyện sẽ ổn thỏa, và hứa sau khi hoàn thành công việc sẽ trở lại với Defect.

=> Có thể nói qua cuộc đối thoại này, cái tôi của nhà thơ được thể hiện rõ nét nhất. Đặc biệt là tự xưng tên tuổi, quê quán nhưng cách xưng hô của nhà thơ rất tự nhiên. Vì Chúa hỏi nên xưng danh. Và ít ai làm được như Tản Đà, tự cho mình là ngu.

Bài thơ Hầu trời được viết độc đáo, mới lạ theo thể thất ngôn tứ tuyệt, đây cũng là một nét mới trong xu thế phát triển của thơ ca đầu thế kỷ XX.

Đăng bởi: THCS Ngô Thì Nhậm

Chuyên mục: Văn lớp 11 , Ngữ Văn 11

Bạn thấy bài viết So sánh Lưu biệt khi xuất dương và Hầu trời?

| Ngữ Văn 11
có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về So sánh Lưu biệt khi xuất dương và Hầu trời?

| Ngữ Văn 11
bên dưới để duhoc-o-canada.com có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: duhoc-o-canada.com của duhoc-o-canada.com

Chuyên mục: Giáo dục

Nhớ để nguồn bài viết này: So sánh Lưu biệt khi xuất dương và Hầu trời?

| Ngữ Văn 11
của website duhoc-o-canada.com

Viết một bình luận