Tính tập thể của văn học dân gian là gì? Ví dụ? | Ngữ Văn 10

Câu hỏi: Tính tập thể của văn học dân gian là gì? Ví dụ?

Câu trả lời:

– Tập thể: theo nghĩa hẹp là một nhóm người, theo nghĩa rộng là một cộng đồng dân cư.

– Cơ chế sáng tạo tập thể:

Tính tập thể phản ánh phương thức sáng tác văn học dân gian: lúc đầu, tác phẩm do một người khởi xướng. Người này đọc tác phẩm cho người khác nghe. Tác phẩm tốt sẽ được tập thể chấp nhận. Sau đó những người khác từ các địa phương khác nhau hoặc các thế hệ khác nhau tiếp tục lưu truyền và sáng tạo làm cho tác phẩm dần dần thay đổi, thường xuyên phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung và hình thức nghệ thuật. .

Hãy cùng trường THCS Ngô Thì Nhậm tìm hiểu cụ thể hơn về văn học dân gian để làm sáng tỏ câu hỏi trên nhé!

I. Văn học dân gian là gì?

– Văn học dân gian là những tác phẩm nghệ thuật truyền miệng do tập thể sáng tạo ra nhằm phục vụ trực tiếp các hoạt động khác nhau trong đời sống cộng đồng. Với người Việt Nam, văn học dân gian là nguồn sữa tươi nuôi dưỡng bao thế hệ trẻ lớn lên trong chiếc nôi tre Việt, trong lời ru dân tộc. Văn học dân gian không chỉ góp phần thể hiện đời sống lao động, tâm hồn của người bình dân mà còn là mảnh đất màu mỡ cho vườn hoa tình yêu đơm hoa kết trái. Qua văn học dân gian, ta cảm nhận rõ hơn sự kì diệu của ngôn ngữ tình yêu, thấy thương hơn gốc lúa, vườn rau, thêm yêu cuộc sống quanh ta.

II. Những nét cơ bản của văn học dân gian

1. Tính truyền khẩu của văn học dân gian

– Truyền khẩu là phương thức sáng tạo và lưu truyền văn học dân gian. Văn học truyền miệng ra đời từ khi dân tộc chưa có chữ viết. Tuy nhiên, khi dân tộc đã có chữ viết và văn học viết thì văn học truyền miệng tiếp tục phát triển, một mặt do đại bộ phận nhân dân chưa có điều kiện học tập để thụ hưởng những thành tựu của văn học viết; Mặt khác, văn học viết chưa thể hiện đầy đủ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, thị hiếu và tập quán nghệ thuật của nhân dân. Vì vậy, nhiều người có học, chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhân dân cũng tham gia sáng tác, lưu truyền văn học dân gian.

Xem thêm bài viết hay:  Cảm nhận cảnh cho chữ trong truyện Chữ người tử tù

Văn nghệ dân gian có nhiều hình thức diễn xướng khác nhau: tục ngữ, ngâm thơ, hát quan họ, kể chuyện cổ tích, diễn chèo tuồng…

Do tồn tại và lưu truyền theo phương thức truyền miệng nên các tác phẩm văn học dân gian thường ngắn gọn, dễ nhớ, người đời sau dễ dàng thêm bớt.

2. Văn học dân gian là sản phẩm của quá trình sáng tác tập thể (tập thể).

Tập thể: theo nghĩa hẹp là một nhóm người, theo nghĩa rộng là một cộng đồng dân cư.

– Cơ chế sáng tạo tập thể:

Tính tập thể phản ánh phương pháp sáng tác văn học dân gian: lúc đầu, tác phẩm do một người khởi xướng. Người này đọc tác phẩm cho người khác nghe. Tác phẩm tốt sẽ được tập thể chấp nhận. Sau đó những người khác từ các địa phương khác nhau hoặc các thế hệ khác nhau tiếp tục lưu truyền và sáng tạo làm cho tác phẩm dần dần thay đổi, thường xuyên phong phú hơn, hoàn thiện hơn về nội dung và hình thức nghệ thuật. .

– Tại sao văn học dân gian lại là tập thể?

– Văn học dân gian có tính tập thể vì: văn học dân gian lúc đầu là sản phẩm của các cá nhân, nhưng về sau được nhiều người (tập thể) tham gia chỉnh sửa, hoàn thiện để tác phẩm ngày càng hoàn thiện. tốt hơn, tốt hơn. Sáng tác tập thể ở đây không có nghĩa là mọi người ngồi lại với nhau, sáng tác cùng một tác phẩm.

– Là một hệ quả tất yếu của chủ nghĩa tập thể, văn học dân gian cũng có tính dị bản.

Khác với tác phẩm văn học viết tồn tại dưới hình thức văn bản, sau khi hoàn chỉnh trở thành một chỉnh thể thống nhất, ổn định, tác phẩm văn học dân gian là một hệ thống mở.

– Do quá trình tập thể tham gia sáng tạo ở những không gian khác nhau, thời gian khác nhau, của những nghệ sĩ khác nhau nên tạo ra sự khác biệt giữa các văn bản của cùng một tác phẩm.

– Ví dụ:

“Đường đến Huế quanh co,

Màu xanh lá cây không đặc biệt Đồ họa đẹp như tranh vẽ.

Xem thêm bài viết hay:  Bài 11 trang 21 SGK Vật Lý 11

Và:

“Đường về Nghệ An quanh co,

Màu xanh lá cây không đặc biệt Đồ họa đẹp như tranh vẽ.

– “Ai xây Núi Đỏ cho cao,

Ai đào sông Lam, ai đào sâu”.

Và:

“Ai xây núi Voi cho cao,

Ai đào sông Cầu, ai đào sâu?

– Nhân dân lao động là lực lượng chủ yếu tạo nên kho tàng văn học dân gian đồ sộ của mỗi dân tộc.

III. Hệ thống thể loại văn học dân gian

– Văn học dân gian Việt Nam cũng như văn học dân gian của nhiều dân tộc khác trên thế giới đều có những thể loại riêng và thể loại chung, tạo thành một hệ thống. Mỗi thể loại phản ánh cuộc sống theo cách thức và nội dung riêng. Hệ thống thể loại của văn học dân gian Việt Nam bao gồm:

1. Thần thoại:

Các tác phẩm tự sự dân gian thường kể về các vị thần, nhằm giải thích tự nhiên, thể hiện khát vọng chinh phục tự nhiên và phản ánh quá trình sáng tạo văn hóa của người xưa.

2. Sử thi:

– Tác phẩm tự sự dân gian có quy mô lớn, sử dụng ngôn ngữ có vần, nhịp điệu, xây dựng hình tượng nghệ thuật hoành tráng, hào hùng để kể về một hoặc nhiều sự kiện lớn diễn ra trong đời sống cộng đồng của nhân dân. dân cư cổ đại.

3. Truyền thuyết:

– Tác phẩm tự sự dân gian kể về các sự kiện, nhân vật lịch sử (hoặc có liên quan đến lịch sử) theo hướng lí tưởng hoá, qua đó thể hiện lòng ngưỡng mộ, kính trọng của nhân dân đối với những người có công với nước, với dân tộc hoặc với cộng đồng cư dân của một vùng.

4. Truyện cổ tích:

– Tác phẩm tự sự dân gian trong đó cốt truyện và hình tượng được hư cấu có chủ đích, kể về số phận của những con người bình thường trong xã hội, thể hiện tinh thần nhân đạo, lạc quan của nhân dân lao động.

5. Truyện ngụ ngôn:

– Tác phẩm tự sự dân gian ngắn gọn, có kết cấu chặt chẽ, thông qua các ẩn dụ (chủ yếu là hình ảnh con vật) để kể về những sự việc có liên quan đến con người, từ đó nêu ra bài học kinh nghiệm. về cuộc đời hay về triết lý nhân sinh.

Xem thêm bài viết hay:  Dàn ý Phân tích bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

6. Truyện cười:

– Tác phẩm tự sự dân gian ngắn, kết cấu chặt chẽ, kết thúc bất ngờ, kể về những sự việc éo le, trái tự nhiên trong đời sống, có tác dụng gây cười, nhằm mục đích giải trí, phê phán.

7. Tục ngữ:

– Câu văn ngắn gọn, súc tích, phần lớn có hình ảnh, vần điệu, nhịp điệu, đúc kết kinh nghiệm thực tiễn, thường dùng trong ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của nhân dân.

8. Câu đố:

– Câu văn hay câu văn thường có vần điệu, mô tả câu đố bằng những hình ảnh, hình ảnh lạ để người nghe tự tìm lời giải, nhằm mục đích giải trí, rèn luyện tư duy và cung cấp kiến ​​thức về cuộc sống. .

9. Con dao:

– Trữ tình dân gian, thường kết hợp với âm nhạc khi diễn xướng, được sáng tác nhằm thể hiện thế giới nội tâm của con người.

10. Câu thơ:

– Tác phẩm tự sự dân gian bằng văn vần, với lối kể mộc mạc, phần lớn kể về những sự kiện, thời sự của làng quê, đất nước.

11. Truyện thơ:

– Là tác phẩm tự sự dân gian bằng thơ, giàu chất trữ tình, phản ánh số phận và khát vọng của con người khi hạnh phúc lứa đôi và công bằng xã hội bị tước đoạt.

12. Chèo thuyền:

– Tác phẩm sân khấu dân gian, kết hợp yếu tố trữ tình và trào phúng vừa biểu dương những tấm gương đạo đức, vừa phê phán, đả kích cái ác trong xã hội. (Ngoài chèo, sân khấu dân gian còn có các loại hình khác như tuồng dân gian, múa rối, kịch tích.)

Đăng bởi: THCS Ngô Thì Nhậm

Bạn thấy bài viết Tính tập thể của văn học dân gian là gì? Ví dụ? | Ngữ Văn 10
có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Tính tập thể của văn học dân gian là gì? Ví dụ? | Ngữ Văn 10
bên dưới để duhoc-o-canada.com có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: duhoc-o-canada.com của duhoc-o-canada.com

Chuyên mục: Giáo dục

Nhớ để nguồn bài viết này: Tính tập thể của văn học dân gian là gì? Ví dụ? | Ngữ Văn 10
của website duhoc-o-canada.com

Viết một bình luận