Triều Lý – Âm vang lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung

Bạn đang xem: Nhà Lý – Dư âm lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung Trong duhoc-o-canada.com

Nhà Lý với 8 triều đại (1010-1225), gồm: Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ), Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông Không mới xây dựng được nền độc lập của Đại Việt. Sáu thế kỷ sau (1605) đời nhà Lý, một tấm bia lớn do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan biên soạn, ngay từ dòng đầu tiên đã ghi: “Thế nước thái bình thịnh trị là nhờ nhân dân”. Tấm bia ghi công trạng của 8 vị vua nhà Lý, đặt tại đền Lý Bát Đế ở làng Cổ Pháp với tên cũ – và làng Đình Bảng với tên hiện nay. Tấm bia ghi rõ “do người đời ấy”, nhưng người đời và con cháu đời sau không biết lịch sử, không nhớ công lao của 8 vị vua nhà Lý.

Di tích lịch sử Đền Đô – nơi thờ 8 vị vua thời Lý.

Từ vị vua đầu tiên Lý Thái Tổ, người dựng nước độc lập, lập cơ nghiệp nhà Lý, đến các vị kế vị: Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông, Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông, Lý Anh Tông, Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông là vị vua không chỉ kế thừa ý chí độc lập của cha ông mà còn giữ vững quốc hiệu Đại Việt, đem trí tuệ và tài năng của mình, vì dân, vì nước. với các nước láng giềng như nước Đại Tống lừng lẫy bấy giờ, giữ mối quan hệ hòa thuận, chỉnh đốn thể chế, kỷ cương… Không bài ngoại mà lập đài Hoài Viễn (1040) để đón khách nước ngoài. Đã nâng nghệ thuật phục sức của quan lên đến mức dạy dân dệt gấm, từ việc du nhập gấm vào đời Tống. Ban hành Bộ luật hình sự (năm 1042), tăng lương cho các quan thanh liêm, nghiêm trị bọn tham nhũng. Nếu quy định trở thành luật chính thức thì mọi người đều có trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc. Đã là lễ thì phải đẹp, phải đúng thuần phong mỹ tục, hợp lòng dân, không được bắt chước, đạo đức phải được nhân dân tôn trọng. Công việc này được nhà vua cho phép. Làm quan thì phải dạy dân, làm gương cho dân, hại dân hại nước, kỷ cương phép nước. Trong nước, quan phải có trách nhiệm với công việc được giao, tước được phong theo phép nước v.v… Chức tước dành cho người được giao trọng trách. Đặc quyền cho quan chức cấp cao, không chỉ thưởng theo từng công việc mà còn tăng lương. Tăng trưởng văn hóa phải toàn dân, lành mạnh và lành mạnh. Để đào tạo thiên tài, phải mở hiệu cổ thụ, mở trường đại học, dựng Văn Miếu (1070). Thi cử cũng cụ thể như trồng cây hái quả. Việc lựa chọn cán bộ căn cứ vào nhu cầu của Nhà nước.

Từ bao thế kỷ nay, những người hiền tài của làng Đình Bảng đã nổi tiếng về kinh tế, văn hóa, lịch sử, lấy ngày rằm tháng ba là ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ. Điện Cổ Pháp quanh năm thơm ngát hương thơm của quan lại và nhân dân tỏ lòng biết ơn nhà Lý…

Xem thêm bài viết hay:  Cách dùng từ gorgeous?

Tùy theo hoàn cảnh, công việc Phật sự của mỗi người, họ nhận được những gì trời đất giao phó, số đông tin tưởng. Thiền sư Đinh Ko, năm 785, khi dựng chùa Quỳnh Lâm ở quê nhà, đã đào được một lư hương và mười thạp đồng xuống sông Tiêu Tương rửa, nhưng một chiếc bị rơi xuống nước. Nhân đó, Sư giải thích rằng: mười chữ (nhập) hợp lại là cổ tự, một ngã xuống nước (thuỷ) hợp lại là chữ Pháp, nên hương Diên Uẩn đổi là hương. Hương thơm Pháp xưa. . Và ghi lại sự kiện này bằng một bài thơ: Quá trình Pháp cụ / Đồng nhất đẳng / Phật pháp chi hưng long / Tạo danh pháp cổ / Pháp khí xuất thế / Mười chữ hòa hợp / Chia tam thịnh, thành tựu tam phẩm (Xứ pháp cụ / Đưa Phật pháp vào đời) Hưng Long/ Đặt tên làng là Cổ Pháp/ Pháp khí xuất hiện/ Mười chuông đồng/ Nhà Lý hưng thịnh, tam phẩm thành công)).

Trước khi mất, thiền sư Định Ko dặn đệ tử Thông Thiện: “Pháp xưa là vùng đất quan trọng, sẽ có binh biến phá hoại, con phải bảo vệ cẩn thận. Con có thể truyền lại cho dòng họ Đinh của con, đó là tâm nguyện của con”. .” Quả nhiên, khi Cao Biền xây thành Đại La bên sông Tô Lịch, biết “đất Cổ Pháp là đất có khí chất vương giả” nên đã cho đào sông Điềm Giang và đầm Phù Chân chôn 19 ngôi mộ để trừ tà. của mối. mạch của trái đất.

38 năm trước khi Lý Công Uẩn ra đời, thấy rõ dã tâm của quân thù, thiền sư Đinh La Quý An đã cho san bằng tất cả những mồ mả “ở ẩn” của Cao Biền, khôi phục lại nguyên trạng long mạch. Ông đã cho tạc tượng Lục Tổ Huệ Năng – vị Tổ thứ 6 của dòng thiền Nam tông bằng vàng ròng, chôn gần tam quan của chùa để chống trộm cắp, và di chúc khi nào người trí sinh ra sẽ lấy làm con. món quà. quà. phương tiện tài chính để hỗ trợ các công việc quốc gia trong thời gian cần thiết. Năm Bính Thân (936), trước khi mất, thiền sư Đinh La Quý An đã trồng một cây gạo xuống đất, ghi lại tọa độ nơi cất dấu tượng Lục Tổ bằng vàng và dặn đệ tử xây dựng. móng và tháp. giấu kín với người ngoài. Trong lúc cấy lúa, thiền sư đã để lại một lời tiên tri tuyệt vời: “Đầu núi rồng lớn/Núi lớn ẩn minh châu/Mười hai bát quái/Lưỡng long chầu nguyệt/Nguyệt nguyệt thử nguyệt/Tiên nguyệt xuất hiện”/Nhà Lý lên ngôi/Thành công liên tục / Rồng từ cây gạo hiện ra / Tháng Tý, ngày gà, giờ thỏ / Trời soi mây xanh).

Việc tuyển chọn, đào tạo thiên tài, tuyên truyền đưa người tài lên ngôi không phải chuyện một sớm một chiều.

Sau khi nhà Lý thất thủ Thái Đường ở Mai Lâm, điện Cổ Pháp lúc qua đời với tên gọi mới là Lý Bát Đế đã về tay nhà Hồ. Khi ấy, giặc Minh sang xâm lược nước ta, ngôi chùa bị chúng phá hủy, xã hội thay đổi thăng trầm. Mãi đến năm 1602, sau khi lên ngôi, nhà Lê mới cho trùng tu lại ngôi chùa trên diện tích 31.259m2. Đền vẫn giữ tên gọi Lý Bát Đế, có bố cục hợp lý, kiến ​​trúc hài hòa, quy mô hoành tráng, vẫn giữ được vẻ trang nghiêm cung đình kết hợp với sự tao nhã dân gian, phía trước có hồ bán nguyệt – vết tích của sông Tiêu Tương. , còn có Thủy Đình vuông vức, mái đình lợp diềm rất đẹp. Tam quan với những mái cong vừa duyên dáng vừa uy nghiêm. Bậc tam cấp có đôi rồng đá chạm trổ công phu. Chính giữa là nhà Tiên Sa uy nghi 8 mái và sảnh đường có bài vị và tượng các vua. Bên phải có văn, bên trái có võ. Trong chùa, lễ vật là những công trình kiến ​​trúc, điêu khắc có giá trị nghệ thuật như lư hương, kiệu bát cống, ngựa gỗ, voi đá, tượng quan hầu, đồ tế tự, cửa chạm rồng, cành tre. , bát mã quần phi…

Xem thêm bài viết hay:  Ví dụ về hệ thống thông tin và viễn thông

Tại đây, ngày 13/9/1945 Bác Hồ đã đến thắp hương sau khi tuyên bố độc lập dân tộc. Mười năm sau ngày kháng chiến thắng lợi, khi Bác trở về lần thứ hai, ngôi đền đã bị giặc Pháp tàn phá, chỉ còn là đống gạch vụn. Con cháu rất công bằng với tổ tiên và kẻ thù cũng chọn nơi để tàn phá… Năm 1952, đền Đô chỉ còn lại trong bức ảnh ghi lại trong nhật ký của Viễn Đông Tôn Tích Hội.

Cách đền Lý Bát Đế khoảng 1 km là đền Rồng (thờ Lý Chiêu Hoàng – vị vua nữ duy nhất của Đại Việt), tuy nhỏ hơn nhưng quanh năm vẫn ngát hương thơm, cây cổ thụ xanh tốt. vòng quanh.

Nhiều khi nhìn cánh đồng làng Đình Bảng mà ứa nước mắt, lòng đầy trân trọng. Tương truyền, các vị vua nhà Lý sau khi nhắm mắt xuôi tay đều được hỏa táng theo đạo Phật. Sa lị (xác bị thiêu thành tro) đưa về làng, rải khắp cánh đồng “Liên hoa khai bát diệp” (hoa sen có tám cánh)… với một quan niệm rất nhân văn về “sự tích của người chết những người không đấu tranh cho nguyên nhân của cái chết”. phần của họ.” vùng đất của sự sống” nhưng các hoàng đế đã ở vị trí tiên phong.

Trong tiếng vọng lịch sử, ghi nhớ Tuyên ngôn độc lập “Nam Quốc Sơn Hà Nam Đế”còn nhớ lời vua Lý Anh Tông nói với Thái tử khi nhà vua băng hà: “Nước ta sông núi giàu có, ngươi nhiều hiền tài, quốc gia anh hùng, kho báu không thiếu gì, nước ta có thể so sánh được. nên cẩn thận với nước.”

Mười thế kỷ sau, tư tưởng đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại với các chiến sĩ QĐNDVN tại đền thờ các Vua Hùng: “Các Vua Hùng có công dựng nước. làm hại công nông, nhưng năm nay được mùa lớn. Nếu trăm họ đầy đủ, tôi không lo thiếu. Vì vậy, tôi sẽ chia cho người dân một nửa số tiền thuế của năm nay để xoa dịu những người phải lội suối, trèo đèo. Còn bài “Sám hối” của vua Lý Cao Tông: “Tu trẻ gánh vác nghiệp lớn như ở nơi chín suối, chẳng biết nỗi khổ của dân, nghe lời tiểu nhân mà gây oán hận với dân. dưới… Dân kêu rồi mình còn biết trông cậy vào ai, giờ mình sửa thì trăm họ bắt đầu sửa sai, ai có đất đai, tài sản bị xâm phạm trái pháp luật thì phải trả lại”. Nhà Lý, rồi nhà Trần, trong cuộc tranh giành quyền lực, có những cuộc tàn sát… Nhưng nhà Trần xứng đáng với đất nước, nhân dân, công lao của nhà Lý đối với việc giữ vững nền độc lập của dân tộc, đã có những đóng góp được ghi nhận bởi các nền văn hiến sau này, người dân cả nước gắn bó với nền văn minh, văn hiến thời Lý – Trần.

Xem thêm bài viết hay:  Giải Bài 4 trang 25 SGK Hóa 12

Tôi đã chứng kiến ​​già trẻ làng Đình Bảng dựng lại đền thờ Lý Bát Đế vào đầu những năm 90 của thế kỷ 20, được tận mắt thấy, được nghe cụ Trạng Bùng Phùng Khắc dịch văn bia một cách tâm huyết. Cái khoan. Tôi cũng biết công lao, đóng góp của nhiều nhà yêu nước trên cả nước, trong đó có những người mà tên tuổi của họ gắn liền với những nghĩa vụ nặng nề và danh hiệu cao quý đối với nhân dân, với đất nước. Có những người ở xa, không chỉ Việt Kiều tản cư trong chiến tranh, mà còn có cả những người con của nhiều thế hệ Vương Triều Lý ở Hàn Quốc và các châu lục khác.

Cơ hội ngàn vàng trong tiến trình lịch sử với Lòng nhân – Trí của dân tộc ấy vẫn âm cao trong hồn nước. Xin chắp tay đảnh lễ trước ngàn Xuân mang hồn thiêng Đại Việt – Việt Nam.

Bạn xem bài Nhà Lý – Dư âm lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung Bạn đã khắc phục vấn đề bạn phát hiện ra chưa?, nếu không, vui lòng bình luận thêm về Nhà Lý – Dư âm lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung bên dưới để duhoc-o-canada.com thay đổi & hoàn thiện nội dung tốt hơn phục vụ độc giả! Cảm ơn bạn đã ghé thăm website duhoc-o-canada.com

Thể loại: Địa lý
#Vua #Lý #Âm #âm vang #lịch sử #Tác giả #Trương #Thi #Kim #Dung

Bạn thấy bài viết Triều Lý – Âm vang lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung có khắc phục đươc vấn đề bạn tìm hiểu ko?, nếu ko hãy comment góp ý thêm về Triều Lý – Âm vang lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung bên dưới để duhoc-o-canada.com có thể thay đổi & cải thiện nội dung tốt hơn cho các bạn nhé! Cám ơn bạn đã ghé thăm Website: duhoc-o-canada.com của duhoc-o-canada.com

Chuyên mục: Giáo dục

Nhớ để nguồn bài viết này: Triều Lý – Âm vang lịch sử – Tác giả: Trương Thị Kim Dung của website duhoc-o-canada.com

Viết một bình luận